Vườn cây trong thùng xốp

( Thơ vui )

Tứ mùa dâm bụt cứ khoe hoa
Chanh cốm đung đưa mấy cành la
Mồng tơi uốn éo leo dàn hẹp
Đu đủ mon men đứng thật thà.

Chè vối vươn vai thân đứng thẳng
Húng quế nhắn tin chú cầy tơ
Mau mau gặp lại ngày vui nhé
Quốc lủi đang say chủ sẽ chờ.

Cải xanh đang nợ cá rô đồng
Khóm hành chờ lợn suốt mùa đông
Cả vườn rau quả trên sân thượng
Khác gì trang trại ở miền trong...

Kết quả hình ảnh cho vườn cây trong thùng xốp Kết quả hình ảnh cho trồng cây trên sân thượng

Chớm Đông

Gió mùa đã biết tập đi. Rong chơi
Vào ngày cuối Thu sang Đông lả lơi
Hơi lạnh quấn vào tay chân , quần áo
Cho bao em gái đỏ lựng làn môi.

Em bé vào mùa đội mũ
Cụ già lụ khụ ho khan
Bước đi chậm chạp
Cuối đời lo toan
Cổ quấn khăn, chân đi bít tất
Quần áo ấm trong ngoài
Giữ cho mình ấm nhất.

Mây rủ nhau che kín mặt trăng
Trời mưa lất phất rửa mặt Chị Hằng
Mùa khô rút nước tre không ra măng
Hoa trốn trong nụ - Mùa Đông dùng dằng...

Kết quả hình ảnh cho Mùa đông

Thơ Trần Chấn Uy

THỊ MẦU VÀ THỊ KÍNH
Nếu anh Nô không ân ái thị Mầu
Đêm giã gạo đèn dầu lay lắt.
Thì thị Kính không mang oan dan díu mắt dao cau
Váy thị Mầu không vấy bùn cửa Phật..
Mất gì đâu, của giời cho thì cứ hưởng
Ả thị Mầu xé rách sách hủ nho
Phận cánh chuồn, mỏng manh trinh bạch
Thách cả làng, Mầu chửa với anh Nô.
Thua nhân gian, Kính về trời, nỗi oan ức để lại
Cái bụng kia con cái đã thành hình
Đời đen bạc nhân tình thế thái
Giải oan rồi, thị Kính có siêu sinh ?
Ai chẳng muốn làm anh Nô giã gạo
Dẫu chỉ là phận gà, thoả sức vọc niêu tôm.
Đời luôn có bọn đạo đức giả tạo
Áo nâu sồng thị Kính mãi oan khiên.
Xắn váy hồng đào, Mầu khoe cặp đùi trắng
Mặc anh Nô giã gạo suốt canh thâu.
Yêu thì cứ tìm cách mà chiến thắng
Cuộc đời này, ai nhường nhịn ai đâu !
TRẦN CHẤN UY
Thích
Bình luận

Chuyện của cha tôi

 Đi câu cáy
( Câu chuyện thứ 5 )
    
     ....Ngày đó quãng tháng 3 âm lịch năm 1955, tôi đã mười lăm. Hai cha con tôi đi câu cáy ở sác Bén Đén.
    Cha tôi thức tôi dậy rất sớm, nếu không, xuống đến nơi muộn quá sẽ không câu được. Những bước chân đi trong đêm tối, không dày, không dép. Bước thấp, bước cao, sao lại nặng nề đến vậy! Rất buồn ngủ nên tôi có cảm giác như có ai đó dẫn dắt mình đi, mà không phải chân mình đang bước. Nói dại! Như có ma dẫn đường. Qua rặng tre um tùm, trời tối như hũ nút, lò dò trong đêm trên con đường làng nhỏ hẹp, sau nhà bà Ngoạt đến nhà ông Phùng, bà Mỹ, ông Lễ, bà cố Ước, tôi thấy sợ nên cha tôi dành đi phía sau. Tuy vậy tôi lại sợ đi vào vệ đường giẵm phải gai hoặc phân trâu, phân chó thì khổ quá. Xa xa có những giọng nói rì rầm, thưa thớt, nghe lúc được lúc không của nhóm người khác trong làng, cũng đi câu như chúng tôi, nên tôi thấy đỡ lẻ loi, cô đơn, đỡ tủi phận vì cái nghèo của gia đình mình. Tôi cứ vừa đi vừa ngủ, đầu cổ, chân tay lỏng hết nên rất mệt mỏi. Đi đến gần Cầu Bùng trời chưa sáng rõ, tôi va vào một người đi chợ sớm. Hoảng quá tôi mới tỉnh dần, tiếp tục đi cho đến bến đò cạnh làng Kỷ Luật.
    Con Sông Bùng ngoằn nghèo, uốn khúc ngăn cách làng với cánh đồng muối bên kia. Chúng tôi phải đi đò qua sông. Trước mặt là những ô nại phơi nước chạt, đang hình thành những hạt muối non. Có thể hôm nay nắng to, muối sẽ khô nước và thu gom được.
    Muốn câu cáy phải đi xa hơn, nơi ít sân phơi muối. Một bãi cỏ chịu mặn lá nhọn và cứng, lưa thưa hiện ra. Những con cáy lấp ló ngoài cửa hang, phơi nắng lóng lánh. Tôi chỉ cần di chuyển rất nhẹ nhàng và thả mồi cốt sao cho con cáy không giật mình, rồi làm cho cái mồi chuyển động vừa phải. Thế là cáy cặp chặt bằng đôi càng khỏe. Chỉ cần từ từ nhắc lên và đưa vào tay. Giỏ đã có sẵn mang bên mình. Khi con cáy an toàn trong giỏ, tôi lại thả mồi câu con khác. Hai bố con đứng cách nhau chừng 30 mét. Đến 9 giờ sáng bụng đã đói. Mỗi người câu được lưng chừng giỏ, chúng tôi quyết định ra về….
    Đi theo con đường số 1, rải đá cấp phối, có bốn lều bán nước mới dựng tạm cạnh đường. Mặt hàng đơn sơ: Mấy cái bánh đa vừng quạt sẵn, nải chuối chín treo lơ lửng giữa bàn và mấy bát con chè nếp nấu với đường phên có chút gừng, úp bằng cái lồng bàn cũ kỹ. Một nồi chè xanh ủ kín trong một cái thúng chứa đầy rơm để ủ ấm nước uống cho khách hàng qua lại khi có nhu cầu.
    - Vào quán này đi con.
Cha tôi nói vậy làm tôi mừng ra mặt. Tôi hào hứng hưởng ứng vì là lần đầu tiên cha tôi cho tôi ăn quán. Chẳng phải do chi tiêu tiết kiệm gì đâu, cơ bản là không có tiền, bởi có buôn bán gì đâu mà có.
Vào quán Cụ hỏi:
-         Bao nhiêu tiền một bát chè nếp bà chủ?
-         Một hào ạ, chủ quán nhanh nhảu trả lời
-         Bà cho 2 cha con hai bát.
    Tôi ăn bát chè mà thấy ngon miệng như chưa bao giờ được ăn. Kết thúc, cha tôi rút trong túi ra đúng chỉ có hai hào, thanh toán cho chủ quán, súc miệng qua loa bát nước vối loãng, cám ơn bà rồi ra về. Sau này tôi mới hiểu vì sao trước khi ăn, cha tôi lại hỏi giá kỹ càng như vậy. Nếu bà chủ nói cao hơn một hào chắc lẽ mỗi bố con ăn vài quả chuối mà thôi.
    Về đến nhà khoảng 11 giờ trưa, mẹ tôi đã nấu cơm sẵn. Rổ rau khoai đã luộc tinh tươm. Nhấc nhấc hai giỏ cáy nặng tay mẹ tôi vui lắm. Tôi vội vàng đổ cáy ra chậu rửa qua nước sạch, chọn những con tỉnh táo đẹp mã, bóc yếm, bóc mai để Cụ rang muối ngay. Món cáy rang muối ăn kèm lá lộc vừng bánh tẻ với cơm thì còn gì bằng.
    Bữa cơm trưa ngon lành, thịnh soạn vì được hưởng thụ thành quả lao động của mình. Số cáy còn lại Cụ đem giã nhỏ với một ít muối, cho vào vại sành phơi nắng nửa tháng là đem ra chấm ngọn khoai lang luộc, hoặc chưng nước mắm cáy chấm thịt luộc kèm một nhánh hành chăm thì tuyệt hảo…
    Những năm trước, nhất là những năm kháng chiến, đời sống dân mình còn khó khăn nhiều lắm nên mọi thứ đều tự cung tự cấp là chính. Tất cả sức người, sức của phục vụ tiền tuyến chống ngoại xâm. Hòa bình lập lại chưa kịp phục hồi kinh tế, cái ăn cái mặc chưa đủ đầy nhưng đồng bào làng tôi vẫn một lòng theo Đảng, khắc phục dần thiếu thốn, xây dựng quê hương ngày càng ấm no giàu mạnh…

NQH

Hà Nội ngày 2 tháng 10 năm 2017

Kết quả hình ảnh cho câu cáy

Cầu vượt biển

Cát Hải nay có đường vui
Qua cầu vượt biển thảnh thơi đi về
Đất liền nối nhịp cầu quê
Bắc qua sóng nước hướng về đảo xa.

Tương lai Cát Hải - Cát Bà
Trung tâm kinh tế đó là ước mơ
Nhịp cầu nối những vần thơ
Mờ sương, sóng dữ đôi bờ vẫn sang.

Nhớ thời những chuyến phà ngang
Cách nhau bởi những chuyến hàng lo toan
Nay cầu rộng rãi thênh thang
Nối liền bao trái tim vàng gặp nhau...

Kết quả hình ảnh cho càu vượt biển tân vũ, lạch huyệnKết quả hình ảnh cho càu vượt biển tân vũ, lạch huyện


* Cầu và đường vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện nối liền TP Hải Phòng với đảo Cát Hải.
- Tuyến đường và cầu này có tổng chiều dài 15,63 km. Riêng cầu có chiều dài 5,44 km. Cầu rộng 29,5 m. Thiết kế 4 làn xe, tốc độ cho phép 80 km/h.
- Hiện là cầu vượt biển lớn và dài nhất VN. Cầu hoàn thành bàn giao và thông xe vào đúng ngày 2 - 9  năm 2017 .

Thăm Từ Đường Cụ Nguyễn Khuyến

Chúng con đến đây
Bước vào cổng “Môn Tử Môn”
Thăm Ao Thu Tam Nguyên Yên Đổ
Thăm Bái Đường năm gian nhà cổ
Hàng trăm năm vẫn cột kèo bằng gỗ
Mái ngói vẹn toàn
Hai cây nhãn lồng hưởng lộc Vua ban
Xanh tốt sum suê trước sân
Như hai vị thần: Quan Văn - Quan Võ
Giữ đất Thánh Hiền
Cho con cháu đến đây ngưỡng mộ
Một đời bút sắc lòng trung.

Hậu đường ngan ngát khói hương
Di vật còn nguyên hai hòm sách cũ
Hai ống quyển lưu lạị những áng văn của Cụ
Vua Tự Đức ban tấm Bảng Vàng
“ ÂN TỨ VINH QUY”.

Cụ đứng đây bức tượng cao gầy
Chống gậy trúc dáng khoan thai ngay thẳng
Bầu trời xanh-  trong Vườn Bùi tĩnh lặng
Cụ vẫn đi về trong nắng Thu xưa…


Kết quả hình ảnh cho thăm quê Nguyễn Khuyến
Cổng Môn Tử Môn

Viếng mộ Nam Cao

Mấy chục năm thất lạc tha phương *
Nay ông về quê hương
Với khóm trầu, bãi dâu, vườn chuối
Con sông Châu vẫn níu lại tiếng thoi dệt vải
Hưởng lại vị cá kho của làng Vũ Đại
Nay đã bán ra cả nước, Châu Á - Châu Âu
Ăn trầu quê với điếu thuốc, miếng cau
Đĩa bánh đúc với cá bống kho, dầm tương
ăn lâu không chán.
Nếu còn sống chắc ông thăm nhà Bá Kiến
Thăm Chí Phèo  - Thị Nở
Thăm nương dâu vườn chuối - Xanh mướt quanh nhà...

Ao làng sen lại nở hoa
Mộ ông nay khách gần xa tìm về
Thăm làng Vũ Đại miền quê
Thắp hương cầu chúc mọi bề an nhiên...

Kết quả hình ảnh cho mộ Nam Cao
Mộ Nam Cao ở thôn Đai Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân , tỉnh Hà Nam
* Nam Cao sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm 1951 do Đich phục kích bắn chết trên đường đi công tác tại Hoàng Đan, Ninh Bình. Mộ ông thất lạc cho đến năm 1996 mới tìm được tại nghĩa trang huyện Gia Viễn với sự tìm kiếm của các nhà ngoại cảm trong và ngoài nước.
Tác phẩm của ông có nhiều nhưng xuất sắc nhất là chuyện ngắn Chí Phèo ( đã được dựng thành phim )

Thăm nhà Bá Kiến

Ngôi nhà gạch ba gian còn đó
Hơm trăm năm nào có chi hơn
Bức bàn gỗ mốc màu sơn
Qua tay bảy chủ vẫn hờn nắng mưa.

Chum chứa nước chắc vừa kê lại
Bể nước ăn một cái đàng hoàng
Vườn trông rộng rãi khang trang
Bao cây đu đủ dọc ngang nặng mình
Bàn thờ không có bóng hình
Hai chùm hoa giả lung linh một thời.

Ba quả táo mấy người vừa khấn
Năm bia lon, ba bận la vi
Nén hương tắt đã quá kỳ
Đơn sơ một kiếp, sầu bi một đời.

Tên ông đã nhiều người được biết
Dấu lưu danh cùng kiếp Chí Phèo
Bẽ bàng Thị Nở đi theo
Đai Hoàng ghi lại một chiều thu xanh...


Đại Hoàng 17 / 9 / 2017
Hà Nội      19 / 9 / 2017



* Thôn Đại Hoàng thuộc xã Hòa Hậu huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, quê hương của những nhân vật trong chuyện ngắn CHÍ PHÈO của Nam Cao


Kết quả hình ảnh cho nhà bá kiến làng vũ đại

Những ngôi mộ bên đường

    Những ai có dịp lưu thông trên đường bằng ô tô, xe máy hay tàu hỏa đều đã gặp những ngôi mộ bên đường, nhất là đường Quốc lộ hoặc Tỉnh lộ. Mỗi mộ một vẻ, cái to, cái bé, cái có bát hương, ảnh đá. Lại có cái được ốp lát gạch quý, đá quý, có khung, có mái để đặt lễ vật thờ tự rất quy mô. Phần lớn những người dưới mộ đều còn trẻ, có khi là chủ gia đình.
     Sự ra đi của họ để lại đàn con bơ vơ, không nơi nương tựa, cha mẹ già mà vẫn phải cưu mang, nuôi đàn cháu nhỏ dại khi không còn bố mẹ chúng trên đời… Phần lớn trong đó là do tai nạn giao thông. Họ tử vong ngay lập tức, cơ thể dập nát, đứt rời cơ thể, trông rất thảm thương mà người thân không biết hoặc không có điều kiện đưa về nhà mai táng…
    Gặp những ngôi mộ ấy bên đường, người chứng kiến không khỏi ngậm ngùi, thương xót họ, mà còn nhắc nhở cánh cầm lái phải thận trọng, tránh rủi ro cho mình, gia đình mình và bảo vệ khách hàng yêu quý.
    Đó là chuyện của các năm trước đây, hồi mới giải phóng Miền Nam. Còn bây giờ các mộ đó đã được di dời  phục vụ cho việc mở rộng đường và nâng cao chất lượng, thành đường cao tốc nên chúng ta ít gặp.

    Tôi muốn nói đến những ngôi mộ đặc biệt, trước đây, khi mà chưa có nhiều ô tô và xe máy như bây giờ. Người chết do nạn đói mấy chục năm về trước: Đó là mộ của ông cụ già qua đời giữa đường huyện lộ, đoạn từ Cồn Hàng đi Yên Sở. Hai bên đường là hai cánh đồng, lúa mới bén rễ đang lên xanh. Tôi đoán chắc khoảng tháng hai âm lịch gì đó. Không biết ông cụ đến đây từ bao giờ, người đi đường chỉ biết rằng: chiều qua vẫn chưa gặp cụ. Sáng hôm sau khi trời đã sáng rõ, những người đi Chợ Sở, Chợ Dinh bán cá mới phát hiện cụ đã chết từ đêm. Vì ở giữa cánh đồng hai xã cách nhau gần 2 cây số nên chẳng ai sẵn hương để thắp cho cụ. Chiều về chỉ thấy có thêm cái chiếu cũ đắp sơ sài. Mấy làng xã chung quanh đã được thông báo nhưng không có người đến nhận. Cụ ra đi không tên, không tuổi, không con cháu họ hàng thân quen. Đến quê quán cũng không có nốt. Đối với Cụ,  một vụ mùa giáp hạt thất bát quá dài, Cụ không chờ được một bữa no bằng gạo, ngô hoặc khoai sắn!...
    Dân sở tại đã chôn cất cụ bằng manh chiếu mỏng thừa đầu thừa đuôi, đào huyệt bằng cuốc, hố nông choèn choẹt, cùng với nấm mộ lè tè bên lề đường. Mấy thẻ hương đã được thắp lên của những người đi bán cá từ sáng sớm đã tan buổi chợ vì người ta kháo nhau đã chôn cất cho cụ xong xuôi.
    Từ đó trở đi , cứ mỗi lần dân miền biển đi chợ sớm bán cá qua đây, mỗi người đều mang theo một cục đất, góp phần đắp mộ và thắp hương cho Cụ. Cầu mong Cụ bình yên, đi về Tiên giới và phù hộ cho họ buôn may, bán đắt. Chiều về lại có thêm hương và hoa quả, cảm tạ Cụ. Người ta thành tâm thờ phụng Cụ như một vị thần. Và cứ thế mỗi năm mộ Cụ ngày một cao to, hương khói nghi ngút. Từ đó mộ Cụ như một địa danh, cứ nói đến “Mả Ông Cố” là người trong vùng biết ở vị trí nào rồi.
    Phải nói là những người buôn bán hoặc làm ăn mang tính thị trường, dù tiền vốn ít ỏi, họ đều có một nét văn hóa tâm linh riêng là tôn thờ thần linh và luôn nghĩ mình làm ăn phát đạt, ăn nên làm ra đều có phần phù hộ, độ trì của các đấng bề trên nên việc thờ tự của họ rất cẩn thận và chu đáo.

Trong một lần đi câu cáy ở một bãi ven sông Bùng, cha tôi kể câu chuyện về nạn đói 1945 ở quê tôi, làm tôi nhớ mãi:  Khoảng tháng 2 năm Ất Dậu (1945) người ăn xin đi trên đường QL-1 này nhiều lắm. Toàn người Nam Định, Thái Bình vào. Tại quãng này có 2 mẹ con đói lả ngồi bên vệ đường. Da bọc xương, đầu tóc quần áo rũ rượi. Đứa trẻ đầu to, chân tay teo tóp, mắt trắng dã, đầu ỏng, đít beo, cũng đã đói lả, chỉ còn thoi thóp thở. Người mẹ nôn ra toàn lá cỏ…Mặc dù bên cạnh có một củ khoai luộc, chắc là khách đi đường vừa cho nhưng mẹ con bà ấy đã mê man không còn biết gì nữa. Chiều hôm đó cả hai mẹ con đều chết bên vệ đường!...
Những người chức trách địa phương vùi mẹ con bà ấy ngay tại đây với mấy nhát đất gọi là mộ. Vô danh, không quê quán. Về sau có mấy trường hợp nữa, người ta dùng xe thô sơ gom lại và chôn chung một hố…
Bất ngờ tôi thấy nghẹn giọng vì thương người ta quá. Cùng là dân mình cả mà cũng chẳng còn gì để chia sẻ trong trường hợp cùng quẫn, đói khát đến chết như thế này…
Nghĩ đến cuộc sống dân mình ngày ấy với hôm nay thật một trời một vực. Ai bảo không nhờ ơn cách mạng đó chỉ là số rất ít. Những người phủ nhận công ơn cách mạng họ đã cố tình nhắm mắt trước lịch sử, cố tình thù hận, trái với số đông người Việt mà thôi…


NQH 
Hà Nội ngày  15 tháng 9 năm 2017

Bão số 10

Quê ta bão sắp vào rồi
Bao người day dứt đứng ngồi không yên
Một vùng bão tố triền miên
Một vùng hạn hán ghé liền sau lưng...

Thương quê vất vả quá chừng
Lúa chưa kịp gặt, lạc vừng chưa thu
Cái nghèo bám đuổi lu bù
Miếng cơm không trọn cũng từ bão dông...

Trận này bão lại thử lòng
Quê hương đã trải sống cùng thiên tai
Bảo nhau chống bão số 10
Chằng neo nhà cửa - lúa thời gặt nhanh
Giữ cho cuộc sống yên lành
Miền quê Xứ Nghệ trở thành gương chung...

Không có văn bản thay thế tự động nào.



Chăm vợ ốm

Tôi trở trời,
Bà lo cho tôi
Đủ thứ
Bát cháo hành
Mang tên Thị Nở
Canh hạt sen với thịt nạc ninh nhừ
Bồ câu hầm thuốc bắc
Bà bắt tôi ăn hết
Rồi thuốc, rồi thang
Gói này gói khác
Chỉ mấy bữa tôi khỏe liền...

Mấy hôm nay bà mệt
Thân gầy quặn thắt tình thương
Tôi biết làm sao cho bà được khỏe?
Đi lại bình thường
Miệng vui luôn kể
Chuyện người, chuyện chợ hôm nay...

Tôi mua bát cháo hoa có thịt về đây
Mấy quả trứng ấp non - Ngải cứu
Bánh dò, bánh chưng
Trứng gà ngoài chợ
Bởi vì tôi vụng nấu nhất nhà!
Xoong nhỏ, vung to tôi kiếm chẳng ra
Lọ muối, củ hành
Bà để đâu tôi không tìm thấy?
Tôi bật mãi mà bếp không chịu cháy
Nên tôi đành ra chợ
Mua mấy thứ chăm bà...

Thôi đừng trách cứ gần xa
Để tôi vụng dại
Tại bà ... đó nghe...

Kết quả hình ảnh cho chăm vợ ốm
Ảnh minh họa từ internet


Giếng Đông - Một thời để nhớ

         Làng tôi xưa có một Giếng Đông. Đây là giếng cổ của Làng Hiệu Thượng. Tên gọi này phù hợp với vị trí địa lý của nó vì nằm ở phía Đông của làng. Giếng Đông cách trung tâm bìa làng khoảng trên 70 mét.
     Đó là một giếng đất. Đường kính trên 20 mét. Sâu khoảng 5 mét. Chung quanh bờ giếng đắp một giải đất cao hơn mặt đường hơn nửa mét, rộng 1,5 m. Các cụ xưa trồng cây dứa ngô, lá lúc trưởng thành gần bằng bàn tay, dài khoảng non 1 mét, cứng cáp. Có gai chung quanh tàu lá. Ở đầu của lá có một gai to, màu nâu rất cứng và nhọn. Trâu bò không dám ăn lá hoặc ngọn của loại dứa này vì sợ gai đâm. Lá dứa già và bánh tẻ cắt đem ngâm nước khoảng 15 đến 20 ngày sẽ bị thối rữa, người ta chỉ việc rũ rửa sạch phần thịt của lá, chỉ còn lại một nắm sợi tơ, đem phơi khô làm sợi dệt võng hoặc bện thành dây thừng rất bền chắc. Cũng có thể xe thành giải rút hoặc dây xâu tiền đồng. Các bà các chị đi chợ buộc quanh người để tiền khỏi rơi ra ngoài. Xen kẽ cây dứa ngô là các loại cây thấp tầng như cây gai sòng sọng, một số cây lá nhỏ có gai, quây thành một vành đai xanh chung quanh bờ. Bên ngoài vành đai xanh là đường đi dân sinh quanh giếng.
     Phía trước giếng là một khu đất rộng, bằng phẳng, thảm cỏ dày và xanh mượt mà. Mỗi lần đi học ở trường huyện về qua đây, tôi thường ngồi lại ngay trên bờ giếng, ngắm mặt nước tĩnh lặng, trong xanh và huyền bí. Tôi có cảm giác các vị thần linh ẩn náu nơi đây nên khi vắng người, ngồi lâu một mình rất ngại.
     Các cụ xưa xếp bậc xuống giếng từ miệng giếng xuống đáy nghiêng theo bậc cầu thang bằng những viên gạch sò thiên tạo, đã đục đẽo định hình dày khoảng 20 cm, rộng 30 cm, dài 40 cm. Bề mặt mỗi bậc xếp 2 viên là 80 cm. Người gánh bước chân vào những viên sò này sẽ không bị trơn trượt, không làm cho nước đục bởi không dẵm chân vào bùn đất. Cứ tuần tự từng người một, người này lên người khác xuống.
     Giếng Đông là nơi tụ hội của cả làng. Mỗi chiều hè ra giếng gánh nước được hưởng không khí trong lành, mát rượi do gió nồm từ biển thổi vào. Nghe tiếng sáo diều vi vu từ làng Đông Phái, làng Tú Mỹ thả những con diều to, có sải cánh trên 2 mét, mang theo sáo đồng thả lên trời, cả đêm cả ngày rất vui tai và thanh bình. Bao trai thanh, gái lịch nên vợ nên chồng cũng từ những buổi đi gánh nước Giếng Đông. Đây cũng là nơi hò hẹn, tình tứ của lớp lớp trai gái nhiều thế hệ trước đây.
     Giếng Đông là một địa danh thiêng liêng. Một di tích văn hóa và đời sống của Làng Hiệu Thượng. Đây là địa chỉ quan trọng trong tâm linh của làng tôi. Nguồn nước giếng lúc nào cũng trong mát có lẽ trong lòng giếng có lớp rong tóc tiên. Loại rong này đã thanh lọc những vẩn đục trong đất, những tạp chất trong nước và trên bờ mỗi khi mưa xuống. Nước trong giếng không bao giờ cạn. Chính Giếng Đông đã nuôi sống cả làng và những làng xã lân cận hàng trăm năm có lẻ. Năm 1948 làng tôi đào và xây 3 giếng khơi  ở 3 xóm Bắc Thượng, Trung Thượng và Nam Thượng. Nhưng nước ở các giếng này chỉ dùng tắm giặt, sinh hoạt vì chất lượng nước không được tốt: cái thì mùi bùn, cái thì nhiễm mặn của muối biển. Những năm hạn hán cả 3 giếng này đều cạn kiệt. Nước đun nấu vẫn dùng nước Giếng Đông vì có chất lượng nước tốt nhất. Đặc biệt dùng nước này nấu  chè xanh Đô Lương ( chè Gay ) thì thật tuyệt vì nước có màu xanh quyến rũ, uống mát, thơm và đậm đà. Nhiều người nghiện chè xanh nấu nước Giếng Đông. Chị dâu tôi ở TP Vinh mỗi lần về quê đều sai các cháu gánh nước Giếng Đông về đun sôi hãm với chè xanh để uống. Chị tôi khen nước Giếng Đông nấu chè xanh có vị thơm ngon đặc biệt.
     Dân làng tôi có câu ca truyền miệng từ lâu, ai ai cũng nhớ:
            Nước Giếng Đông vừa trong vừa mát
            Đường Hiệu Thượng đất cát dễ đi…
     Những năm đại hạn do yếu tố thời tiết khắc nghiệt, nhất là sau đợt ném bom của thực dân Pháp phá hủy Ba ra Đô Lương, cắt nguồn nước thủy nông không về được 2 vùng lúa Yên Thành, Diễn Châu, các ao hồ, đồng ruộng quanh vùng cạn kiệt, đồng khô cỏ cháy. Các cánh đồng lúa nứt nẻ phải chuyển sang trồng màu như ngô khoai, bông, thuốc lào nhưng thiếu nước nên năng xuất thấp. Dân làng tôi cơ cực vì thiếu lúa gạo. Nhưng Giếng Đông không bao giờ cạn nước. Hình như có một mạch ngầm ở đâu đưa tới nguồn nước mát lạnh trong lành để cứu khát đồng bào quê tôi.
     Cụ Phạm Thâm năm nay đã 84 tuổi kể: ngày trước lúc cụ còn nhỏ, có một năm hạn hán, dân trong làng và các làng xã quanh vùng đi gánh nước Giếng Đông như trẩy hội. Dân làng tôi sợ hết nguồn nước nên bàn nhau làm một con thuyền dán bằng giấy trắng, giấy màu, chặt các thân cây chuối kết thành bè nổi, đặt thuyền lên đó. Chung quah  thuyền cắm cờ xí và các hình ma quỷ, thần linh, kèm theo lễ vật hương hoa, bánh trái, nhờ thầy phù thủy cúng suốt một ngày để cầu Trời, khấn Phật, Long Mạch, Thổ Thần… đừng bao giờ để dân tôi chết khát. Mấy hôm sau trời đổ một trận mưa to, nhờ đó nước lại dâng lên, dân làng kháo nhau: Đúng là có thờ có thiêng…Trời đất thiên địa bao giờ cũng che chở cho dân làng được bình an.
     Khi hòa bình lập lại 1954, nhất là những năm 60 đến70 của thế kỷ trước, đời sống bà con được nâng lên do tổ chức lại sản xuất, hệ thống thủy nông được củng cố, đồng ruộng có đủ nước để gieo trồng, nhà nhà đua nhau đào giếng khơi và xây bể dự trữ nước mưa thì vai trò của Giếng Đông không còn quan trọng. Thế là để giếng hoang phế, thậm chí đã lấp đi và để lại một vũng nước sâu, hoang hóa, cỏ mọc lút đầu người…
     Ngày nay, khi ôn lại những năm tháng khó khăn trước đây, người dân nhắc nhiều đến Giếng Đông và 3 cây gạo cổ trong làng. Muốn khôi phục lại Giếng Đông, làm nơi vui chơi giải trí. Con cháu ôn lại một thời mà cha ông đã gắn bó và trân trọng di tích này. Tuy vậy tôi nghĩ chức năng bây giờ không phải để lấy nước uống mà nên làm nông hơn để trồng sen lấy hoa, lá và quả, làm đep, tạo bầu không khí mát dịu cả khu vực địa danh.
     Dự án đã có. Kinh phí vận động những nhà hảo tâm và sự đóng góp của bà con. Nói chung dân làng đều đồng thuận. Chắc cuối năm nay hoặc đầu năm sau thực hiện.
    
     Bà con hy vọng một khu lưu niệm và vui chơi sẽ hình thành, mang ý nghĩa tâm linh và sinh hoạt lành mạnh của mọi người sớm trở thành hiện thực…

 NQH
 Hà Nội ngày 8 tháng 9 năm 2017

                                   

Về quê rằm tháng bảy

Rằm tháng bảy về thăm quê
Trưởng tộc điện chú về gấp gấp
Các họ trong làng người về tấp nập
Họ ta còn thiếu chú mà thôi.

-Có việc chi quan trọng rứa cháu ơi?
-Họ thiếu chú thì thiệt thòi lắm đấy
Năm nay chú tròn bảy mươi bảy tuổi
Chú nên về để con cháu đỡ mong.

Có cần thiết như vậy không?
Bởi chú vừa đi cấp cứu!
Ừ nếu cần thì cố
Về được quê giỗ họ
Rằm tháng bảy cũng là điều hay
Chú sẽ về ngay trong sáng nay...



Thăm cháu

Ngày vui con nhắn tin về
Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu
Xa gừn mình ngại chi đâu
Biết răng là được, biết lâu là dừng.

Thương con nhớ cháu vô chừng
Tui đi thăm nó - khi ưng thì về
Tỉnh ngoài họ nói khó nghe
Quê ta như rứa ai chê mặc người.

Cháu tui đầy cữ hôm rồi
Bữa ni bà mới rảnh rơi lên tàu
Một toa đầy tiếng Diễn Châu
Không quen cũng biết bạn bầu đồng hương...


Kết quả hình ảnh cho lên tàu

Buổi sáng

Từ mờ sáng
Tiếng gà canh ba treo trên ngọn tre
Chuông nhà thờ lan theo làn gió
Từ đầu ga, cuối phố
Mẹ xuống giường
Tìm ánh lửa sầu đông.

Rổ rau thơm
Cây giống chờ qua đêm dông
Ngái ngủ
Vẫn im lìm trong rổ
Chân mẹ gầy bơi trong bão tố
Gánh gồng niềm hy vọng vu vơ
Đi chợ sáng kịp phiên
Các bạn đang chờ
Mong cho mua may bán đắt
Để trưa về
Có thêm tấm bánh đồng quà
Cho những đứa con thơ bé ở nhà
Chờ mẹ...


Kết quả hình ảnh cho gà gáy

lăng mộ đá toyota thanh hóa