Ý kiến Nhà thơ

 Kính gửi Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.
Tôi xin phép anh đăng lại bài viết này của anh lên trang cá nhân để bạn bè tôi cùng tham khảo. Anh vui lòng nhé.

THƠ VÀ THƠ... (2) Tiếp theo
3. Ai đó nói rằng, cá tính sáng tạo bị triệt tiêu thì văn học có chung một gương mặt, đấy là cái mặt nạ của thần chết. Sự tôn trọng cá tính, phong cách, trường phái bao giờ cũng làm cho văn học phong phú và đa phức. Có thơ đọc để hiểu và có thơ đọc để cảm. Từ lâu, Cao Bá Quát đã chạm tới cái thăm thẳm của thơ khi ông cho rằng “Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi” (tức tâm liễu nghĩa chân như si). Hoài Thanh trở thành một nhà phê bình thơ quán quân của thế kỷ khi ông đọc nó bằng con mắt trực giác, cùng với sự quan tâm đến đời sống riêng biệt của từng thi sĩ. “Một nền phê bình hay, thường ra đời từ sự thân quen (với tác giả) và từ sự tiếp xúc thường xuyên lâu dài với tác phẩm được đánh giá”- Nhận xét này của Octavio Paz có vẻ trái ngược với những “nhà phê bình khách quan”, nhưng thực ra đây là một gợi ý đáng để giới phê bình lưu ý, đặc biệt khi họ phải tiếp cận những giá trị mới có tính khai mở trên hệ thống ngôn ngữ mới phức tạp và đa nghĩa. Khi thơ ca trong tình hình “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” thì sẽ xuất hiện vô số niềm vui tầm tầm, nỗi buồn tầm tầm, yêu ghét tầm tầm, có nghĩa là vô số những tác phẩm tầm tầm, cỏ dại lấn át những mầm cây. Cái tài của nhà phê bình không phải là đốt cỏ (hẳn sẽ làm thui chột các mầm cây) mà phải phát hiện ra các mầm cây để nâng niu chăm sóc nó. Có như thế mới giúp cho người đọc phân biệt được CÂY với cỏ. Đừng sợ cỏ, cỏ mãi mãi vẫn chỉ là cỏ mà thôi. Vấn đề đáng lưu ý đối với phê bình thơ của ta gần đây là: Khi thì nhầm cỏ là CÂY, khi lại nhầm CÂY là cỏ.
4. Một nữ tiến sỹ Nhật bản - chị Mori - thạo nhiều ngoại ngữ (khá sành tiếng Việt) và đang tìm hiểu văn học Việt nam, sau khi nghe nhà thơ Hoàng Cầm và mấy nhà thơ ta đọc thơ đã không kìm được xúc động, liền nhận xét: “Tôi thấy thơ Việt Nam hay không kém thơ thế giới mà tôi đã được đọc!” Đấy không phải là một nhận xét “ngoại giao”, mà là một sự khám phá về ngôn ngữ thơ Việt. Nghệ thuật thơ Việt với những cuộc cách mạng và thành tựu của nó đã tôn vinh tiếng Việt lên tới những đỉnh cao rực rỡ qua nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà hay Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Bích Khê, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Quang Dũng, ... Thế hệ thơ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cũng tạo nên một cuộc đi dài với những đóng góp đáng kể ở giai đoạn “sau chống Mỹ”. Trong những năm gần đây, có người quan niệm rằng thơ ta cần tước bỏ những rườm rà ngôn ngữ mà chỉ cần hướng tới các ý tưởng hay “thông điệp” để dễ được dịch ra tiếng Anh, (hay các ngoại ngữ khác) mới mong truyền bá ra thế giới; ngược lại có người lại cho rằng cần “phôn-clo hóa cho thơ” mới dễ dàng phổ cập thơ trong đời sống thị trường đầy xáo trộn ở nước ta. Cả hai quan niệm ấy đều sai lầm khi chối từ chức phận của ngôn ngữ đa nghĩa tạo ra tính hấp dẫn đặc thù của thơ nói chung và thơ Việt nói riêng. Chính các nhà thơ phải biết mang tới cho dân tộc mình một ngôn ngữ thơ sinh động và mới mẻ. Nói như Hêghen: “Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ”. Tôi đọc lại thơ Việt qua các kiệt tác, các tuyển tập và những tập thơ đương đại, thiển nghĩ rằng cũng chẳng có gì đáng hổ thẹn trước thơ của các dân tộc khác. Chúng ta cần khiêm tốn học hỏi, nhưng cũng không nên quá tự ti khi thơ ta ít được truyền bá trên thế giới. Việc chuyển ngữ từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài là cả một vấn đề lớn, như có lần (1994) tôi đã viết trên báo Văn Nghệ và trả lời đài RFI rằng, quá hiếm những nhà thơ nước ngoài thông thạo ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam. Dịch thơ là tái tạo bài thơ trên một ngôn ngữ khác, không phải ai thạo tiếng nước ngoài là cũng dịch thơ hay được. Phải có những nhà thơ nước ngoài dịch thơ Việt như nhiều nhà thơ Việt đã dịch thơ nước ngoài. Muốn có được điều đó, nhà nước cần phải có một chiến lược đào tạo mới hòng mở mày mở mặt cho thơ Việt ra cùng thế giới đúng như nó vốn có, chứ không phải là nó mang bộ mặt méo mó dị dạng như hiện tại. Có thể nói, đây là một “thiệt thòi” lớn cho thơ Việt cần được khắc phục trong tương lai.
(Còn tiếp)
Xem phần 1 ở đây: https://www.facebook.com/nguyentrongtao/posts/10205891929291950

THƠ VÀ THƠ (3) Tiếp theo và hết.
5. Thời nào cũng xuất hiện những nhà thơ trẻ. Họ trẻ cả về tuổi đời và trẻ trung trong cảm xúc, tư duy và ngôn từ. Họ tạo ra hình thức như chính họ không an bài trong những “kiểu mốt” thời trang quen thuộc ngoài đời. Sự “đập phá” những khuôn thước cũ để đưa ra những hình mẫu mới là bản chất, hay nói cách khác là tâm lý chung của tuổi trẻ khao khát sáng tạo nhằm khẳng định chính mình. Trong thơ, sự xuất hiện những gương mặt trẻ có cá tính thường dễ gây “sốc” cho những người vốn đã quen chiêm ngưỡng những giá trị ổn định. Vấn đề “đạp đổ thần tượng” là một vấn đề khó được chấp nhận, vì chưa có thần tượng mới thay thế, vì tâm lý sụp đổ thần tượng hình như chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ. Vậy nên, những cú “sốc” của đối tượng tiếp nhận thơ “khác chuẩn” là không thể tránh khỏi.
Nhưng không chỉ có thế. Vẫn có những người đọc thơ chán ghét sự nhàm chán, cũ kỹ, sáo mòn đến vô cảm của thơ, và họ khao khát cái mới, khao khát sự đổi thay, làm phong phú thi đàn, cũng có nghĩa là làm phong phú hơn tâm hồn của con người thời đại. Bởi chính thời đại luôn vận động, và nhiều quan niệm về thẩm mỹ, lối sống, đạo đức, kinh tế, chính trị… cũng dần đổi thay cùng thời đại của nó. Sự xuất hiện những giọng điệu mới lạ, những tên tuổi chưa quen (không chỉ của thế hệ trẻ) như một nhu cầu khẩn thiết đối với họ. Và sự bắt gặp này lại mang tới cho họ niềm vui, nỗi buồn, thất vọng và hy vọng.
Gần đây (mươi lăm năm qua), vấn đề tình dục trong văn học ở ta luôn được “soi kính lúp”. Nhiều nhà thơ nhà văn động bút vào tình dục luôn được coi là những đối tượng “cần xem xét”, bởi họ đã động vào hàng rào “cấm kỵ” không văn bản của xã hội cộng đồng. Chính vì thế mà tác phẩm của những người thực sự trẻ cả tuổi đời lẫn quan niệm văn chương được đưa ra mổ xẻ không thương tiếc, và đã trở thành những cuộc tranh luận, bút chiến không phân thắng bại giữa các nhà phê bình không cùng quan niệm, còn các tác giả thì ngậm ngùi đau đớn mang trong mình “nỗi oan Thị Kính” mà không sao giải toả.
6. gần hai chục năm qua, có thể nói đấy là thời xuất hiện và khẳng định của nhiều nhà thơ trẻ. Tôi muốn nhắc đến những người mà ngay từ khi họ mới xuất hiện đã gây cho tôi sự chú ý và hào hứng viết bài cổ suý, đề cao hoặc lưu ý đến họ. Hiện tượng Văn Cầm Hải ở Huế với tập thơ "Người đi chăn sóng biển" phải đưa qua 3 nhà xuất bản mới được cho phép in, không phải vì phạm luật cấm mà chỉ vì “thơ lạ quá, đọc không hiểu”. Tám năm sau, tập thơ thứ hai của Hải cũng bị nhận xét đúng như thế, và khác với tập trước là không đâu cấp phép cho in. Nhưng thơ Hải lại được dịch ra tiếng Anh khá nhiều, và xuất hiện trong một số tuyển tập quan trọng trong nước và nước ngoài. Và Hải đã phải trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam bằng 2 tập bút ký độc đáo, và “khó đọc” không kém gì thơ Hải. Hiện tượng Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh Tiến, Đặng Hà My, Thy Nguyên, Trương Quế Chi, Nguyễn Thị Quế Mai, Du Nguyên, Lữ Thị Mai, Trần Mai Hường, Nguyễn Phong Việt, Nồng Nàn Phố, Thái Thuận Minh, Lương Đình Khoa... cũng đều là những nhà thơ trẻ sắc sảo, gai góc và sành điệu ngôn từ. Qua thời gian, người đi lên, kẻ đi lùi hoặc dừng lại, âu cũng là lẽ thường của sáng tạo.
Vâng, thời gian trôi qua, và những gì đáng còn lại thì cứ còn lại. Thơ trẻ dần dần khẳng định vị trí của họ. Thực tế tâm hồn họ không có chiến tranh đẫm máu như thế hệ cha anh. Họ có thực tế của thời bình mở cửa và hội nhập cũng đầy ba động, thách thức mỗi thân phận con người. Thơ họ đang tiếp cận với xu hướng đó.
7. Thơ ta vẫn đang hay, nhưng cái hay có vẻ êm ái, mơn man, rả rích trong mỗi ngõ nhỏ của đời sống tình cảm, mà nó thiếu một “cú hích” mạnh, một tư tưởng lớn tạo ra sự đột biến kinh ngạc trong đời sống văn học. Không ít các nhà thơ thoả hiệp với tiếng vỗ tay trong trò chơi giải trí của đám đông kiểu “vui chơi có thưởng” xuất hiện nhan nhản gần đây. Thơ không phải là khẩu hiệu chữ to để có thể phơi phóng trên các ngã ba ngã tư hay tầm gửi vào các phương tiện quảng cáo tiếp thị dung thô mà không ít người ngộ nhận. Cái mà thơ ta cần hướng tới là một cuộc cách mạng tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật. Đấy không phải là cuộc cách mạng chối bỏ di sản thơ, mà tạo ra những di sản mới vừa khác biệt lại vừa mang tính kế thừa. Trong sáng tạo, các cá nhân có quyền chối bỏ và phủ nhận kẻ khác để làm nên chính mình, tất nhiên điều đó không đồng nghĩa với sự cắt đứt văn hóa hay văn minh mà các cá nhân cùng tiếp nhận. Nếu một nhà thơ nào đó tuyên bố “tôi không thích Nguyễn Du” thì cũng chẳng can hại gì đến uy tín lớn lao của nhà đại thi hào. Vấn đề là anh có dám từ giã cái cũ để làm nên cái mới hay không mà thôi. Ý tôi muốn nói là Thơ ta không thể an bài với thành tựu đã có, mà cần can đảm, táo bạo hơn để bước qua chính mình. Hoặc nói như Eptusenco là: “Hãy đấm vào bức tường, có thể vỡ tay đấy, nhưng cũng có thể làm vỡ bức tường”.

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Con hãy về với má

 

Nghĩa trang Trường Sơn
Đã bao mùa lá rụng                     
Sao con lại không về?
Lòng Má càng tái tê
Ngóng chờ con từng phút.

Tuổi xanh con xếp bút
Theo con đường Ba đi
Từ đất nước chia ly
Giờ đã liền một giải.

Má mong chờ con mãi
Sao con lại không về?
Ba đã trọn lời thề
Chỉ còn con hy vọng!

Hay con về báo mộng
Cho Má một lần thôi!
Con đang ở trên đồi
Hay chơi vơi bờ suối?

Ở cây cao bóng núi
Ở ngay giữa đồng bằng?
Giữa thành phố huy hoàng
Hay làng quê cuối hạ?

Nếu con về với Má
Hãy đi thẳng vào nhà
Đừng dừng bước nữa mà
Đừng đứng nhìn ngoài ngõ!

Nhà cửa ta ở đó
Má chỉ mong con về
Bằng không Má sẽ đi
Tìm con về với Má!...



 Đã bao mùa lá rụng                     
Sao con lại không về?
Lòng Má càng tái tê
Ngóng chờ con từng phút.

Tuổi xanh con xếp bút
Theo con đường Ba đi
Từ đất nước chia ly
Giờ đã liền một giải.

Má mong chờ con mãi
Sao con lại không về?
Ba đã trọn lời thề
Chỉ còn con hy vọng!

Hay con về báo mộng
Cho Má một lần thôi!
Con đang ở trên đồi
Hay chơi vơi bờ suối?

Ở cây cao bóng núi
Ở ngay giữa đồng bằng?
Giữa thành phố huy hoàng
Hay làng quê cuối hạ?

Nếu con về với Má
Hãy đi thẳng vào nhà
Đừng dừng bước nữa mà
Đừng đứng nhìn ngoài ngõ!

Nhà cửa ta ở đó
Má chỉ mong con về
Bằng không Má sẽ đi
Tìm con về với Má!...


      Sau khi tôi gửi tới nhà thơ Nguyễn Quang Thiều xin ý kiến nhận xét về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phảm này, anh đã có ý kiến phản hồi như sau:

       Kính gửi nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

Cám ơn anh đã cho đọc bài thơ của anh. Một câu chuyện đau thương và xúc động được dựng lên với một thể thơ truyền thống rất phù hợp. Câu chữ xúc tích nhưng rung cảm và sâu sắc.

        Kính chúc anh mạnh khỏe, sáng tác hay.
                                 Nguyễn Quang Thiều

Ba mươi mùa sen nở



( Kỷ niệm 30 năm tạp chí
"Người Xây Dựng" ra số đầu tiên )

Kể từ ngày đó đến nay(1)
Ba mươi mùa ấy sen này đã qua
Sắc sen ngày một đậm đà
Hồng đào bao nhị vàng hoa dâng đời.

"NGƯỜI XÂY DỰNG" chính là nơi
Vững vàng tạp chí càng ngời sức xuân
Đến tay bạn đọc bao lần
Mỗi năm sáu bận người thân đợi chờ.

Ngỡ ngàng qua những vần thơ
Cùng bao bài viết chân tơ rạch ròi
Công trình mới lạ khắp nơi
In vào trang giấy - nhiều lời khen hay
Nay cầm tạp chí trên tay
Yêu "NGƯỜI XÂY DỰNG" báo đây thỏa lòng.

Ba mươi năm địa chỉ hồng
Tình người để lại từ trong ra ngoài
Bắc Nam chung một lâu đài
Trong từng số báo cho ai kiếm tìm?…

(1) 1987

Chiếc ghế mẹ ngồi

Cụ Nguyễn thị Thoán ( 1901- 1987 )
(Kỷ niệm mùa Vu Lan)

Chiếc ghế gỗ đơn sơ
mẹ dùng ngồi đun nấu
chăm con - rồi bế cháu
mong chúng lớn từng ngày.

Kể từ đó đến nay
mấy chục mùa lá rụng
con về nào thấy bóng
mẹ ngồi trên ghế xưa?

Bếp đã lạnh bao mùa
đâu còn rơm còn rạ?
nồi niêu đâu hết cả?
chỉ còn ghế mẹ ngồi!...

Lòng con lại bồi hồi
nhớ những ngày thơ bé
đưa bát cơm mẹ sẻ
dành cho con phần nhiều...

Con ơn mẹ bao nhiêu
lại ngắm nhìn chiếc ghế
một thời hình bóng mẹ
đã in vào đời con...


Nàng lọ lem



Cô gái Việt Nam đang đi trên đất Síp 
người Á Đông đẹp hơn gái Tây Phương
áo màu mây trông hấp dẫn lạ thường
hàm răng trắng nụ cười thêm quyến rũ.

Đôi dép đen trên đôi chân vừa đủ
túi Guci mang nhẹ ở bên mình
quần ngắn vừa tầm khoe chân trắng rất xinh
và nhẹ bước trên đường hoa lát đá.

Trông thanh thản có cần chi vội vã
thêm rạng ngời trên đường phố nàng qua
từ tóc đến chân mang bóng dáng điệu đà
nào ai biết nàng lọ lem xứ Nghệ...

Nguyễn Quang Huệ - Những công trình và những vần thơ

KTS Vũ Đình Phàm Tặng bạn

Vũ Đình Phàm với Thai Dinh VanVũ Thế Khanh tại Tháp Bút tại trường THPT Vũ Thê Lang - tp Việt Trì.
THÁP BÚT ĐẤT TỔ
Tặng ông bà NSUT - Nhạc sĩ Vũ Văn Viết
NGND Cù Thị Kim Hợp
Viết lên trời xanh, chí cha ông
nêu cao văn hiến giống Lạc Hồng.
Nguyên khí tụ nguồn nơi đất học
hun đúc hiền tài thịnh non sông…
(2016)
----------------------------------------------------------------------------------------
- “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, chữ của Thân Nhân Trung (1418-1499) trong bi ký khoa
Nhâm Tuất 1442 tại Quốc tử giám Hà Nội.
- “ Tả thiên thanh - Viết lên trời xanh”, chữ của Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) tại Tháp bút
hồ Hoàn Kiếm.
- Tương truyền thày giáo Vũ Thê Lang cùng vợ là Nguyễn Thị Thục mở trường dạy học thời Hùng Vương thứ 18 ( 408 – 258 trước CN ). Hiện nay vẫn còn mộ và đền thờ thày cô tại Thiên Cổ miếu Việt Trì…
- Năm 2014 ông bà NSUT - Nhạc sĩ Vũ Văn Viết, NGND Cù Thị Kim Hợp đã bỏ công của dựng Tháp bút trong trường THPT Vũ Thê Lang tại thành phố Việt Trì nơi đất Tổ.
Bình luận

Tình bạn

( Thân tặng hai Kiến trúc sư:
 Tạ Vạn - Diêu Công Tuấn )


Tôi cảm động về tấm hình tình bạn
Mấy chục năm vẫn gắn bó thương thân
Dù thác ghềnh đến với mỗi cá nhân
Dù sóng gió nếm đủ mùi mặn chát.

Đời vất vả với bao điều ngọt nhạt
Vẫn bên nhau tình bằng hữu không lìa
Dù khoảng trời ngàn dặm cách chia
Vẫn nhung nhớ vơi đầy trong họ.

Tuổi tám mươi với bao điều đã có
Gặp được nhau bao vất vả gian nan
Vẫn yêu nghề yêu bạn ngập tràn
Như thuở trước cùng chung trường chung viện.

Dù hoàn cảnh đẩy đưa vẫn một lòng thương mến
Đến hôm nay gặp mặt thật mặn mà
Người dùng gậy chống chân khi tiếp bước
Người gồng mình đỡ bạn dựa đi qua.

Tấm ảnh này gây xúc động gần xa
Những ai quen đều có chung cảm xúc
Dù thời gian dành cho nhau từng lúc
Nhưng vững bền như bạn thuở hàn vi...

Giới thiệu tập thơ mới

Thưa các bạn.
Tôi vừa hoàn thành in tập thơ mới: "BA BẬC THỀM NHÀ" do NXB Văn Học cấp phép phát hành. Giáo sư Tiến sĩ nhà nghiên cứu phê bình văn học Trịnh Thị Minh Thái đã có mấy lời nhận xét về tập thơ này. Tôi xin đăng lại bài viết của chị để mọi người cùng tham khảo.


  



MẤY LỜI GÓP BÚT CHO TẬP THƠ
"BA BẬC THỀM NHÀ" CỦA
NGUYỄN QUANG HUỆ

            Từ trước đến nay độc giả xa gần yêu mến Nguyễn Quang Huệ qua các tập thơ anh viết cho lứa tuổi thần tiên, tiêu biểu là các tập: Gà mẹ gà con, Chuyện gấu và mèo, Dê trắng dê đen, Công chúa ếch... Đó là những vần thơ trong sáng, là tất cả tình yêu thương anh dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Song có thể nói mình thơ viết cho thiếu nhi thôi chưa đủ để làm nên một Nguyễn Quang Huệ luôn sống trong lòng bạn thơ và những người yêu thơ như hôm nay. Phải kể đến một mảng đề tài khác - đó là thơ viết về tình yêu quê hương đất nước. Ở đề tài này, anh đã để lại dấu ấn qua các tập: Dòng sông ký ức, Chợ quê...  Và đặc biệt là thi tập mới nhất có cái tên rất dung dị, mộc mạc: "Ba bậc thềm nhà".
            Nguyễn Quang Huệ được sinh ra ở Diễn Hạnh - Diễn Châu - Nghệ An. Lớn lên anh đi học đại học rồi công tác và định cư tại Hà Nội. Là một người thiết tha với xứ Nghệ - nơi "chôn nhau cắt rốn", anh thường xuyên về thăm quê và tích cực tham gia các hoạt động văn hóa - xã hội của quê mình. Trong lần về thăm quê nhân dịp xã nhà đón bằng đạt chuẩn NÔNG THÔN MỚI, được một số bạn bè và cán bộ xã gợi ý, Quang Huệ đã xuất bản riêng một tập thơ viết về quê hương. Nhà thơ bộc bạch: "Ba bậc thềm nhà" là tập hợp những bài thơ mới sáng tác về đề tài quê hương đất nước, để tập thơ được dầy dặn và đầy đủ hơn, anh lấy thêm một số bài đã in ở các tập xuất bản trước đây, có bổ sung và chỉnh sửa.
Là một người con xa quê từ lúc còn mười tám đôi mươi nhưng Nguyễn Quang Huệ vẫn một lòng hướng về quê mình. Có lẽ những ai ra đi từ lũy tre làng, sống xa quê hương mới thấm thía được nỗi nhớ quê luôn thường trực, có lúc cồn cào như từng đợt sóng cứ thao thiết vỗ đập trong lòng. Dù đi đâu, về đâu thì hai tiếng “quê hương” thiêng liêng luôn vang vọng trong tâm khảm nhà thơ. Trong suốt chặng đường mấy mươi xuân đời, dù sống nơi thành thị tấp nập người xe song chưa bao giờ Quang Huệ quên những kỷ niệm tuổi thơ nơi quê nhà. Nhà thơ đặt tên cho thi tập của mình là "Ba bậc thềm nhà" với dụng ý nghệ thuật, anh muốn nhắn nhủ đến mọi người hãy biết nhớ về nguồn cội, nhớ về quê cha đất tổ của mình, bởi một lẽ "quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người". Từ thuở lọt lòng Nguyễn Quang Huệ đã gắn bó với mái nhà thân thương của mình, hình ảnh ba bậc thềm nhà quen thuộc đã in sâu trong tâm trí: "Thân thương ba bậc thềm nhà/ Đi vào bao lượt đi ra bao lần/.../ Từ sĩ tốt đến quân vương/ Nào ai quên lúc náu nương thềm nhà/ Ngàn đời từ thuở ông cha/ Lớn khôn, khờ dại từ ba bậc thềm..." (Ba bậc thềm nhà). Bài thơ đã làm lay động lòng người bởi chắc rằng nếu ai đã đọc bài thơ trên đều sẽ có những phút lắng lòng để nghĩ suy và chiêm nghiệm về giá trị đích thực của cuộc sống.
Thơ Nguyễn Quang Huệ rất tinh tế, mỗi lời thơ anh viết ra không chỉ mang cảm xúc sâu lắng, tình cảm chân thành mà còn chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Tôi rất thích bài "Chợ quê" của anh bởi chỉ một khổ thơ thôi cũng đã khái quát được cái hồn cốt của một vùng quê giàu truyền thống văn hóa, gửi gắm vào đó tình quê chan chứa, thật đáng trân trọng biết nhường nào: "Tiền nhiều mặc những đâu đâu!/ Chợ quê góp nhặt lá trầu quả cau/ Cảnh quê nghèo túng có nhau/ Không đi nhớ bạn nhớ bầu lại đi" (Chợ quê).
Trước đây quê hương nhà thơ cũng như bao vùng nông thôn khác của cả nước nói chung và xứ Nghệ nói riêng, quanh năm lam lũ bên ruộng lúa, luống khoai mà vẫn không thoát khỏi được cái đói, cái nghèo. Song dưới ánh sáng của Đảng, người dân lại chịu thương chịu khó, cần cù, sáng tạo... vì vậy mà giờ đây Diễn Hạnh đã được thay da đổi thịt, khoác trên mình màu áo mới sáng tươi. Ngày toàn xã hân hoan đón nhận bằng đạt chuẩn "Nông thôn mới" đã minh chứng cho sự đoàn kết một lòng, cố gắng không ngừng của toàn Đảng, toàn dân: "Nông thôn mới kể từ nay/ Chắt chiu công sức bao ngày mới qua/ Vun trồng nay được đơm hoa/ Ngày vui tràn ngập quê nhà thân yêu" (Xã nhà mở hội mừng công). Nhìn làng quê đổi mới, ngày thêm ấm no, giàu đẹp, hơn ai hết Nguyễn Quang Huệ rất đỗi vui mừng và tự hào. Chính nơi đây đã nuôi lớn bao anh hùng, thi sĩ từ củ khoai, quả cà muối mặn, từ vị ngọt bùi đậm đà của mắm cáy quê hương: "... Vị ngọt bùi mắm cáy chấm rau lang/ Cơm độn khoai nuôi anh hùng thi sĩ/ Rẻo cát pha ươm mầm thêm mùi vị/ Của quê nhà không lẫn được nơi đâu/ .../ Đường làng giờ xe chạy rộng thong dong/ Trường trung học phổ thông ngay đầu xã/ Con em ta đẹp như vườn hoa nở/ So với thị thành chẳng khác là bao" (Quê ta Diễn Hạnh). Với Quang Huệ, quê hương chính là chốn thiêng, là nơi nương náu của tâm hồn. Hôm nay lịch sử đã sang trang, qua rồi cái thời đói cơm rách áo, nhìn quê mình ngày càng ấm no, hạnh phúc, nhà thơ đã "vẽ" lên một bức tranh bằng thơ thật sống động, vui tươi: "Cầu quê tựa dải lụa mềm/ Bắc qua sông nước êm đềm trôi xuôi/ Trẻ em như đóa hoa tươi/ Tung tăng đến lớp nói cười râm ran/ Xanh xanh những bụi tre làng/ Mái nhà ngói đỏ từng hàng như tranh/ Đường làng nay rộng thênh thênh/ Cửa hàng cửa hiệu bộ hành đông vui" (Chốn thiêng). Trong mắt Quang Huệ có lẽ chẳng nơi đâu đẹp bằng quê mình, một vẻ đẹp bình yên và sống mãi cùng thời gian: "Xông xênh khúc gỗ bà ngồi/ Vui cùng đàn cháu nói cười râm ran/ Yêu sao quanh bụi tre làng/ Cảnh quê vẫn đẹp như hàng công viên..." (Cảnh quê). Trong tập thơ này Nguyễn Quang Huệ cũng dành một phần để viết về cha mẹ với một lòng kính yêu và biết ơn chân thành. Đọc những câu thơ anh viết về đấng sinh thành chắc hẳn ai cũng rưng rưng niềm xúc động: "Cơm dành con lúc ốm đau/ Mồ hôi chát mặn vận sâu vào đời/ Quanh năm nắng dập mưa vùi/ Chỉ mong con lớn thành người giỏi giang" (Công ơn cha mẹ). Nhà thơ nhớ lại những năm tháng cơ hàn bên gia đình, càng thấu hiểu tấm lòng và công lao không gì có thể đong đếm được của mẹ cha: "Ai so được lòng mẹ cha dâu bể/ Lo cho con từng tấm áo bữa cơm/ Gạo độn khoai nghẹn miệng buổi chiều hôm/ Nuôi khát vọng từ cọng rơm ngọn lá" (Cổng nhà).
            Thơ tình cũng là đề tài góp phần làm cho tập thơ thêm phong phú và lôi cuốn người đọc. Từ thơ viết về kỷ niệm tình yêu học trò cho đến những bài viết cho người vợ thân thương đều giàu rất cảm xúc, lãng mạn và thi vị: "Hai đứa hai trường vẫn khác nhau/ Em trường Nguyễn Huệ, anh Diễn Châu/ Hai lối đi riêng khi đến lớp/ Mà sao như thấy vẫn cùng nhau/.../ Học xong cuối cấp anh ra Bắc/ Năm sau em có giấy nhập trường/ Gia đình chắc chỉ còn phỏng đoán/ Có lẽ là chúng nó yêu thương..." (Đường đi học). Cách nhân vật trữ tình thể hiện tình yêu trong thơ Quang Huệ mới tình tứ và tinh tế làm sao: "Em muốn làm dòng sông/ Cho thuyền anh xuôi ngược/ Nâng niu trên mỗi bước/ Những bến bờ anh qua" (Một lòng bên anh).
"Ba bậc thềm nhà" ra đời từ tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc hòa quyện với tình yêu sâu sắc dành cho quê hương của Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ. Đó là một mối tình quê chung thủy, thiết tha, nồng thắm. Xin chúc cho cánh diều nghệ thuật của nhà thơ sẽ bay cao, bay xa hơn nữa, góp thêm cho đời những vần thơ giàu giá trị.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học
 Trịnh Thị Minh Thái


Bệnh nhân đặc biệt

( Chuyện ở phòng 306 nhà 10 )

Bệnh nhân sa ruột
phải mổ kéo cơ
gây mê hết giờ
tỉnh dần cụ hỏi:

- Tại sao bị trói
lập biên bản ngay
theo mẫu sau đây
đủ năm chữ ký.

Bà nhà thủ thỉ
thôi nào ông ơi
ông được mổ rồi
còn đau lắm đó.

Nằm yên một chỗ
vết mổ mau lành
la hét linh tinh
đây là bệnh viện.

- Người nào ra lệnh
bắt tôi vào đây ?
mổ bụng thế này
kiện lên tòa án.

- Ông ơi hãy tạm
bình tĩnh đã nào
vết mổ lành mau
kiện ai cũng được.

Mắt ông ngơ ngác
đây là nơi đâu?
gọi ủy ban mau
vào đây nói chuyện.

Giằng co một chuyến
chân đạp lung tung
người nhà đau lòng
sợ bung vết mổ!

Hai viên thuốc ngủ
cụ dịu cơn dần
bà mới phân trần
ông tai biến não.

Khổ thân ông lão
nay tuổi tám tư
luôn mồm xin thưa
bàn giao công việc...


Ghi chú: Bệnh nhân bị sa đỳ nặng cả hai bên nên phải mổ kéo cơ. Trước đây cụ là Thanh tra Bộ Thương Mại. Nghỉ hưu hơn chục năm bị tai biến não nên bây giờ thỉnh thoảng vẫn lên cơn kích động, tinh thần có lúc không minh mẫn. Tuổi già nhiều khi bệnh tật éo le như vậy đấy. Thật thương cho cụ. Kính chúc cụ chóng lành bệnh về gia đình vui vẻ cùng con cháu.

Quên không dám hỏi

( Thơ vui )

Em tên đầy đủ là gì
Điện thoại số mấy - nhà đi lối nào?
Để lòng anh lại nôn nao
Cứ thơ với thẩn làm sao bây giờ?...

- Thôi đừng ra bộ giả vờ
Nhớ ai?...Ai nhớ?... ngồi trơ một mình!...

Bất ngờ

Sao có người giống nhau đến thế
từ chiều cao cân nặng đến màu da
mái tóc đen cắt ngắn điệu đà
làn môi đỏ ánh mắt nhìn dịu vợi.

Phút gặp gỡ làm mình thêm bối rối
nhớ ngày xưa đã ngót bốn mươi năm
những lần đầu bạn ấy đến chơi thăm
bao kỷ niệm đã chôn vào dĩ vãng.

Nàng bây giờ khác xưa do năm tháng
cũng không cùng họ người ấy trước đây
đã có chồng và con cái đủ đầy
có cả đại gia đình hạnh phúc.

Nàng bây giờ không cùng tên người trước
không đúng số nhà, tên phố tên quê
mà sao giống gớm giống ghê
làm mình nhầm tưởng lối về năm nao...

Ra viện

Xe vừa về đến ngõ
mở cửa ngước nhìn xa
đã có mấy người ra
bắt tay mừng tíu tít.

Ôi trời nom gầy thiệt
nửa tháng rồi còn gì
hỏi thăm mấy bữa ni
bao giờ anh ra viện?

Con dâu liền thưa chuyện
chiều nay bố cháu về
chắc lẽ đã lên xe
chỉ dăm mười phút nữa...

Ôi tình làng nghĩa phố
vắng vài ngày hỏi thăm
quý nhất sự quan tâm
lúc khó khăn hoạn nạn.

Ốm đau là cái hạn
ai cũng gặp vài lần
báo với nhau nguyên nhân
xúm vào cùng giúp sức.

Bà nhà tôi thành thực
bệnh cũng khỏi rồi mà
may phúc lớn cả nhà
hôm nay về rồi đó...


Rút xông

Hôm nay bác sĩ hẹn rút xông
vừa mừng vừa nghĩ có sao không?
Tiên liệu ban đầu nghe khả dĩ
Cầu mong mọi việc sẽ hanh thông.

Mười hai ngày đêm bao thử thách
Nhức buốt đã qua nhẹ cả lòng
Máu chảy không còn - đau đớn giảm
Bầu trời lại sáng mây lại trong.

Chắc sẽ về nhà dăm hôm nữa
Cây hoa cây cảnh lại vẫy chào
Hòa cùng hoa lá cùng bè bạn
Thơ lại tiếp vần - lời lại trao...

Bắt tay

Trước khi vào phòng mổ
Tôi bắt tay người thân
đầu tiên tìm hơi ấm
Đủ sức qua một lần.

Bố con rơi nước mắt
Sợ rủi ro đúng mình
Vợ bàng hoàng nắm chặt
Không muốn rời quá nhanh.

Ba mươi phút đã qua
Bác sĩ ra tin vội
Ca mổ được diễn ra
Thành công ngoài mong đợi.

Trở về phòng hậu phẫu
Thấy trời xanh lá xanh
nắng vàng và chim hót
Đang nhảy nhót trên cành.

Niềm vui mừng tràn ngập
Trên khuôn mặt người thân
Xóa đi bao lo lắng
Hạnh phúc đến thật gần...

lăng mộ đá toyota thanh hóa