Thơ Đặng Vương Hưng




KHI EM... THÊM MỘT LẦN CHỒNG

“Tại sao không phải là "lại lên xe hoa", "lại lấy chồng"... mà là "Thêm một lần chồng"? Chữ dùng thật đắt và không thể tìm ra một cụm từ đồng nghĩa nào hay hơn để thay thế!
"Thêm" nghĩa là đã từng có rồi, và "thêm" cũng có nghĩa là chưa chắc đã phải lần cuối cùng. Có bao nhiêu người đàn ông đã bước qua cuộc đời người phụ nữ ấy?
Nhưng dường như hạnh phúc vẫn quá xa vời. Bởi "thêm một lần" nữa cũng giống như lại thêm một sự "dang dở, dại khờ, hư không" mà thôi.
Bởi vậy, bài thơ kết thúc thật đẹp mà cũng thật buồn: Ngập ngừng mây trắng trên đồng lại bay..." – Lời giới thiệu của Lê Đình Thắng.


Thế là cây trúc còn xinh
Như ngày xưa ấy
Chúng mình
Mới yêu

Thế là mong nhớ bao nhiêu
Ta mang đánh đổi
Những chiều...
Ngẩn ngơ

Thế là thêm một tứ thơ
Tình tang, dang dở
Dại khờ
Hư không...

Khi em... thêm một lần chồng
Ngập ngừng mây trắng
Trên đồng
Lại bay...

Tháng 5-2000
Đặng Vương Hưng
_________________

LỜI BÌNH CỦA BẠN THƠ:

“Tứ thơ chênh vênh giữa cái còn và cái mất. Khổ cuối viết hay và nhuyễn về một dạng thức tâm hồn. Phảng phất ca dao và Nguyễn Bính, nhưng cách diễn đạt lại mang ấn tượng của Đặng Vương Hưng những năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi .”
(Nguyễn Trọng Hoàn)
"Tình tang - dang dở - dại khờ - hư không. Đúng là khờ thật! Hạnh phúc đã trong tầm tay lại còn để tuột mất, rồi ngẩn ngơ tiếc nuối.
Như cánh chim trời đã bay đi, không trở lại. Tình yêu cũng vậy, cứ ngập ngừng do dự mãi, sẽ chẳng bao giờ đến được...”
(Hoài Hương)
“Trong chúng ta, ai mà chẳng có lần đánh mất một điều gì đấy thiêng liêng mà vĩnh viễn không tìm lại được...
Dù "Khi em thêm một lần chồng", Đặng Vương Hưng lại có thêm một tứ thơ mới, nhưng làdang dở, dại khờ, hư không... Có như vậy cũng chỉ là phù du, phù vân.
Ta bỗng ước mong sao cứ mãi "Như ngày xưa ấy / Chúng mình / Mới yêu"... Cuộc đời sẽ đẹp đẽ và thiêng liêng biết nhường nào!”
(Trần Nhật Thu)
“Ngỡ rằng lá trúc thôi bay / Hóa ra dang dở đong đầy hư không / Để ai thêm một lần chồng / Câu thơ nghẹn lại, trổ bông trắng trời”.
(Nguyễn Đình Trọng)

Bâng quơ



Áo ngoài cởi quách cho đỡ nóng

Chỉ để bên trong cái mập mờ

Nếu có yêu nhau xin gửi lại

Cầm lòng - níu giữ chút bâng quơ.

Chọn người xông đất năm Đinh Dậu

Thưa bạn đọc.

Tôi xin đăng bài viết của KTS (Kiến trúc sư) Vũ Đình Phàm về những vấn đề tâm linh mà đầu năm mới nhiều người quan tâm. Tác giả là người đã tìm hiểu sưu tập và nghiên cứu nhiều năm về đề tài này. Tôi đã chiêm nghiệm và áp dụng những vấn đề do ông nêu ra và cảm thấy nhiều việc rất đúng và rất hay. Vậy xin các bạn thử vận dụng xem sao nhé.



Năm ĐINH DẬU - 2017
- Ngũ hành niên : HỎA ( Sơn hạ HỎA )
- Cửu tinh trực niên : Nhất bạch - Thủy tinh.
- Tiết Lập Xuân : Thời khắc chuyển tiết 22giờ35phút thứ Sáu ngày 3/02/2017,
                             tức ngày 7 tháng Giêng năm Đinh Dậu.   
- Những phương vị cát hung cần lưu tâm khi tiến hành những việc đại sự trong năm:
     - Những phương vị cát lợi: Trung cung - Nhất bạch, Chính Bắc - Lục bạch.
     - Phương vị cần thận trọng khi tiến hành công việc đại sự: Tây Bắc - Nhị hắc, Chính Nam - Ngũ hoàng.
     - Trong năm Đinh Dậu - 2017, phương vị Chính Tây ( Thái tuế ) và hướng đối diện là phương vị
     Chính Đông ( Tuế sát ) tuyệt đối tránh khi tiến hành công việc hưng công động thổ.
     Dưới đây là những gợi ý chọn người xông nhà đất; chọn ngày cúng tế, cầu phúc, cầu tự, khai trương, hợp đồng giao dịch, nạp tài, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu; chọn hướng xuất hành…trong dịp Tết Nguyên đán năm Đinh Dậu - 2017:
PHẦN 1/- Chọn ngày khai trương, họp mặt gia đình - thân hữu đầu xuân, chọn hướng xuất hành:
+ Ngày mồng 1 tết ( ngày Ất Mão, giờ Bính Tý ) - tức thứ Bảy ngày 28/1/2017: Ngày Hoàng đạo
- Lợi cho công việc: Cúng tế, cầu phúc, cầu tự, khai trương, hợp đồng giao dịch, nạp tài, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…  
- Xuất hành nên chọn hướng Đông Nam ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo : Bính Tý (23-1g), Mậu Dần (3-5g), Kỷ Mão (5-7g), Nhâm Ngọ (11-13g), Quí Mùi (13-15g), Ất Dậu (17-19g).
+ Ngày mồng 2 tết ( ngày Bính Thìn, giờ Mậu Tý ) - tức Chủ nhật ngày 29/1/2017: Ngày Sát chủ, kị mọi việc.
- Nên cúng tế…
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Chính Đông ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo : Canh Dần ( 3-5g ), Nhâm Thìn (7-9g), Quí Tị (9-11g), Bính Thân (15-17g), Đinh Dậu
(17-19g), Kỷ Hợi (21-23g).
+ Ngày mồng 3 tết (ngày Đinh Tị, giờ Canh Tý) - tức thứ Hai ngày 30/1/2017: Ngày Hoàng đạo, ngày Tứ phế
- Nên cúng tế…
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Chính Đông ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Tân Sửu (1-3g), Giáp Thìn (7-9g), Bính Ngọ (11-13g), Đinh Mùi (13-15g), Canh Tuất
(19-21g), Tân Hợi (21-23g).
+ Ngày mồng 4 tết (ngày Mậu Ngọ, giờ Nhâm Tý ) - tức thứ Ba ngày 31/1/2017:
- Nên cúng tế
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Chính Bắc ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Nhâm Tý(23-1g),Quí Sửu (1-3g), Ất Mão (5-7g), Mậu Ngọ (13-15g), Canh Thân (15-17g), Tân Dậu (17-19g).
+ Ngày mồng 5 tết ( ngày Kỷ Mùi , giờ Giáp Tý ) - tức thngày 1/2/2017:  
- Nên Cúng tế…
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Chính Nam ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Bính Dần (3-5g), Đinh Mão (5-7g), Kỷ Tị (9-11g), Nhâm Thân (15-17g), Giáp Tuất
(19-21g), Ất Hợi (21-23g).
+ Ngày mồng 6 tết ( ngày Canh Thân, giờ Bính Tý ) - tức thứ Năm ngày 2/2/2017: Ngày Hoàng đạo
- Lợi cho công việc: Cúng tế, cầu phúc, cầu tự, khai trương, hợp đồng giao dịch, nạp tài, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…  
- Xuất hành nên chọn hướng Tây Nam ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Bính Tý (23-1g), Đinh Sửu (1-3g), Canh Thìn (7-9g), Tân Tị (9-11g), Quí Mùi (13-15g), Bính Tuất (19-21g).
+ Ngày mồng 7 tết ( ngày Tân Dậu , giờ Mậu Tý ) - tức thứ Sáu ngày 3/2/2017:
-  Ngày Lập Xuân ( Thời khắc chuyển tiết 22giờ 35phút ).
- Nên cúng tế
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Tây Nam ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).

- Giờ Hoàng đạo: Mậu Tý (23 - 1g), Canh Dần (3-5g), Tân Mão (5-7g), Giáp Ngọ (11-13g), Ất Mùi
(13-15g), Đinh Dậu (17-19g).
+ Ngày mồng 8 tháng Giêng (ngày Nhâm Tuất, giờ Canh Tý)-tức thứ Bảy ngày 4/2/2017: Ngày Hoàng đạo.
- Lợi cho công việc: Cúng tế, cầu phúc, cầu tự, khai trương, họp mặt gia đình thân hữu…  
- Xuất hành nên chọn hướng Chính Tây ( hướng Tài thần), hướng Tây Bắc ( hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Nhâm Dần (3-5g), Giáp Thìn (7-9g), Ất Tị (7-9g), Mậu Thân (15-17g), Kỷ Dậu (17-19g), Tân Hợi (21-23g).
+ Ngày mồng 9 tháng Giêng (ngày Quí Hợi , giờ Nhâm Tý) - tức Chủ nhật ngày 5/2/2017: Ngày Hoàng đạo
- Nên cúng tế
- Không lợi cho công việc : Khai trương, xuất hành, họp mặt gia đình thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Tây Bắc ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Quí Sửu (1-3g), Bính Thìn (7-9g), Mậu Ngọ (11-13g), Kỷ Mùi (13-15g), Nhâm Tuất
(19-21g), Quí Hợi (21-23g).
+ Ngày mồng 10 tháng Giêng ( ngày Giáp Tý, giờ Giáp Tý )-tức thứ Hai ngày 6/2/2017: Ngày Hoàng đạo, ngày Tứ kị.
- Nên cúng tế
- Không lợi cho công việc : Xuất hành, khai trương, họp mặt thân hữu…
- Nếu cần xuất hành nên chọn hướng Đông Nam ( hướng Tài thần, hướng Phúc Thần ).
- Giờ Hoàng đạo: Giáp Tý (23-1g), Ất Sửu (1-3g), Đinh Mão (5-7g), Canh Ngọ (11-13g), Nhâm Thân (15-17g), Quí Dậu (17-19g).
Lưu ý dùng giờ: Phần trên tại mỗi ngày đều ghi giờ Hoàng đạo với 3 cấp độ: Chữ đậm, chữ thường đứng, chữ thường ngiêng. Giờ ghi bằng chữ đậm - cát nhiều nên dùng, chữ thường đứng dùng được, chữ thường ngiêng hạn chế dùng…

Cụ thể trong 10 ngày đầu năm Đinh Dậu - 2017 (ghi theo ngày âm lịch) :
- Ngày cát lợi cho việc cúng lễ, cầu phúc, cầu tự : Mồng 1,5,6,8,10
- Ngày cát lợi cho việc khai trương mở hàng, giao dịch kinh doanh, họp mặt gia đình thân hữu :Mồng 1,6,8 
- Ngày cát lợi cho việc xuất hành : Mồng 1,6, những ngày khác khi xuất hành nên kết hợp với hướng Tài thần hoặc Phúc thần…


PHẦN 2 /-Hướng dẫn sử dụng bảng chọn tuổi người xông nhà  đất năm Đinh Dậu - 2017 :
- Bảng trang 3 “CHỌN TUỔI NGƯỜI XÔNG NHÀ ĐẤT NĂM ĐINH DẬU - 2017” được dùng để lựa chọn  người mời xông nhà đất (nhà ở, văn phòng, công ty, cửa hàng…) vào dịp tết Nguyên đán năm Đinh Dậu - 2017, được tiến hành như sau :
Bước 1 : Lấy hàng CAN tuổi chủ nhà tra bảng sẽ được một số tuổi có thể được dùng cho việc xông nhà đất
( lấy theo hàng ngang gồm các cột ẤN, QUAN, TÀI, PHÚC sẽ được từ 6 đến 10 tuổi ).
Bước 2 : Lấy hàng CHI tuổi chủ nhà so với hàng chi những tuổi đã chọn ở bước 1 để loại những tuổi “hình, xung” với tuổi chủ nhà; những tuổi còn lại có thể được dùng để mời người xông nhà đất…
- Nên chọn người xông nhà đất có tuổi hợp với tuổi chủ nhà thành“lục hợp”hoặc“tam hợp”, thành Lộc, Mã, Quí nhân ( cát thêm cát )…Cũng có thể chọn kết hợp 2 đến 3 người cùng xông nhà  đất một lúc, nhưng phải hết sức thận trọng để tránh vướng Tam tai, Tam sát… Rất nên chọn mời người xông nhà đất là những người thân thuộc hoặc bạn bè quen thân, những người có gia đình vẹn toàn hạnh phúc trường thọ, những người có ý thức trách nhiệm xã hội, hiểu biết làm ăn trung thực trong kinh doanh giao dịch …
 Tóm lại :        - Muốn lợi cho việc học hành thì chọn cột ẤN
- Muốn lợi cho công việc của công chức, viên chức thì chọn cột QUAN
- Muốn lợi cho tài lộc trong kinh doanh thì chọn cột TÀI
- Muốn lợi cho con cháu thì chọn cột PHÚC

Để kiểm tra tương quan giữa tuổi chủ nhà và tuổi người được chọn mời xông nhà đất:
- Địa chi Lục hợp: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân, Ngọ hợp Mùi.
- Địa chi Tam Hợp: Thân - Tý - Thìn, Tị - Dậu - Sửu, Dần - Ngọ - Tuất,  Hợi - Mão - Mùi.
- Địa chi Lục xung: Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tị xung Hợi.
- Địa chi Tương  hình: Tý hình Mão, Sửu hình Tuất, Dần hình Tị, Thìn hình Thìn, Tị hình Thân, Ngọ hình Ngọ, Mùi hình Sửu, Thân hình Dần, Dậu hình Dậu, Tuất hình Mùi, Hợi hình Hợi.


CHỌN TUỔI NGƯỜI XÔNG NHÀ  ĐẤT NĂM ĐINH DẬU - 2017
                                    Người biên soạn : Vũ đình Phàm -   DĐ 0988660339 

Hàng
CAN
tuổi
chủnhà
Trong bảng là tuổi của người được chọn xông nhà - đất năm Đinh Dậu - 2017
ẤN
Lợi cho việc học hành,thi c,học vấn
QUAN
Lợi cho công việc của công chc, quan chc
TÀI
Lợi cho tài lộc trong
kinh doanh, giao dịch
PHÚC
Lợi cho con cháu
GIÁP
Quí Tị 1953, 2013
Quí Dậu (qn) 1993
Quí Sửu 1973
Tân Tị 1941, 2001
Tân Dậu (qn) 1981
Tân Sửu 1961
Kỷ Tị 1989
Kỷ Dậu (qn) 1969
Kỷ Sửu 1949, 2009

Bính Thìn 1976

ẤT

Nhâm Thìn 1952, 2012


Canh Thìn 1940, 2000

Mậu Thìn 1988 
Đinh Tị 1977
Đinh Dậu (qn) 1957
Đinh Sửu 1937, 1997
BÍNH
Ất Tị 1965
Ất Dậu (qn) 1945, 2005
Ất Sửu 1985
Quí Tị 1953, 2013
Quí Dậu (qn) 1993
Quí Sửu 1973
Tân Tị 1941, 2001
Tân Dậu (qn) 1981
Tân Sửu 1961

Mậu Thìn 1988

ĐINH

Giáp Thìn 1964


Nhâm Thìn 1952, 2012


Canh Thìn 1940, 2000

Kỷ Tị 1989
Kỷ Dậu (qn) 1969
Kỷ Sửu 1949, 2009
MẬU
Đinh Tị 1977
Đinh Dậu (qn) 1957
Đinh Sửu 1937, 1997
Ất Tị 1965
Ất Dậu (qn) 1945, 2005
Ất Sửu 1985
Quí Tị 1953, 2013
Quí Dậu (qn) 1993
Quí Sửu 1973

Canh Thìn 1940,2000

KỶ

Bính Thìn 1976


Giáp Thìn 1964


Nhâm Thìn 1952, 2012

Tân Tị 1941, 2001
Tân Dậu (qn) 1981
Tân Sửu 1961
CANH
Kỷ Tị 1989
Kỷ Dậu (qn) 1969
Kỷ Sửu 1949, 2009
Đinh Tị 1977
Đinh Dậu (qn) 1957
Đinh Sửu 1937, 1997
Ất Tị 1965
Ất Dậu (qn) 1945, 2005
Ất Sửu 1985

Nhâm Thìn 1952, 2012

TÂN

Mậu Thìn 1988


Bính Thìn 1976


Giáp Thìn 1964


Quí Tị 1953, 2013
Quí Dậu (qn) 1993
Quí Sửu 1973

NHÂM

Tân Tị 1941, 2001
Tân Dậu (qn) 1981
Tân Sửu 1961
Kỷ Tị 1989
Kỷ Dậu (qn) 1969
Kỷ Sửu 1949, 2009
Đinh Tị 1977
Đinh Dậu (qn) 1957
Đinh Sửu 1937, 1997

Giáp Thìn 1964

QUÍ

Canh Thìn 1940, 2000


Mậu Thìn 1988


Bính Thìn 1976

Ất Tị 1965
Ất Dậu (qn) 1945, 2005
Ất Sửu 1985

Ghi chú: - (qn): Âm quí nhân,
           

Bạn xưa



Có phải người quen của tôi không?

Cứ trông ngờ ngợ tự hỏi lòng

Dáng người thân thuộc gần xưa cũ

Nay đẹp hơn nhiều ai ngóng trông?...


Tóc ngả sang chiều nơi bến đợi

Tóc xanh đâu thấy thuở chưa chồng?

Thời gian đi vắng xuân trở lại

Trông mặn mà hơn buổi chợ đông...


Hỏi rằng cháu ngoại bao nhiêu đứa

Cháu nội bao nhiêu, đã học gì?

Ông xã vẫn còn làm ăn được?

Bà còn như rứa khỏi vân vi...

Lên đỉnh Fansipan

Đá ở lưng chừng chẳng ai xem
Đá lên đỉnh núi vạn người thèm
Bước chân lên đá sao mà thích
Cùng với  mây trời trong dịu êm.

Anh đã đến rồi Fansipan
Đã đến cùng em với gió ngàn
Tỏa ánh hương đời cùng mây núi
Còn nơi nào nữa để anh sang?...

Muốn trốn tìm ư đỉnh núi cao
Chung quanh đây có thấy nơi nào?
Dù cao đến mấy trong trời đất
Anh vẫn chung tình - vẫn ước ao.

Hôm nay bắt gặp em ở đây
Ở đỉnh Fansi... dãy núi này
Mấy trăm bậc bước - chân tuy mỏi
Cáp treo đưa đón giữa trời mây.

Gặp em bao nỗi niềm khôn xiết
Cả đời chỉ ước một lần đi
Nắm được tận tay nhìn tận mặt
Đỉnh cao dốc đứng có ngại gì...


  Kỷ niệm 1 - 1 - 2017



Chim khôn

Chim khôn vỗ cánh tìm mồi

Gái ngoan tìm bạn ở nơi phong trần.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người


Đầu năm một chút Sa pa

Bên chợ tình Sa pa

Trước sân Nhà Thờ cổ

Chợ tình và rừng cây ôn đới

Gái bản xuống chợ gặp nhà thơ

Sau NOEL


Sau NOEL của Chúa
Đến ngày mình ra đời
Cháu con dù bận rộn
Không quên ngày sinh tôi.

Hạt nảy mầm tách vỏ
Lớn dần theo mùa trăng
Ra hoa và kết hạt
Theo nhịp dài tháng - năm.

Cứ mỗi lần sinh nhật
Con cháu lại nhắc nhau
Đứa lo cho bữa nhậu
Đứa chọn quà thật lâu.

Các cháu cứ tíu tít
Tranh thổi nến hộ ông
Niềm vui như trẻ lại
Tình người càng mênh mông...

Người lãng du trên đường đời vô định

Thưa bạn đọc.
Tôi xin phép tác giả Lê Thành Nghị và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đưa bài viết này lên trang cá nhân của tôi. Mục đích là muốn có tài liệu để đọc lại lúc cần và để bạn bè tôi có dịp xem, nhớ lại giải đất Miền Trung kiên cường dũng cảm như thế nào trong chiến tranh chống xâm lược. Tôi mong hai bạn và bạn đọc lượng thứ nếu có điều gì sơ suất mà tôi chưa nghĩ tới...

NGƯỜI LÃNG DU TRÊN CON ĐƯỜNG VÔ ĐỊNH

LÊ THÀNH NGHỊ

Trong làng thơ Việt hiện đại, những nhà thơ lãng du thứ thiệt, lãng du như một triết lý sống, lãng du theo đúng nghĩa của từ này không có nhiều, vì phần nhiều bị những ràng buộc, không phải cứ muốn là được. Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ dám làm một cuộc lãng du trong văn chương, trong cuộc đời, muốn tạo cho riêng mình một cách sống theo ý mình. Hiển nhiên, với xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, những năm đầu thế kỷ XXI, chưa chuẩn bị mọi điều kiện cho những việc làm cứ muốn là được. Nhưng như một người giàu bản lĩnh, Nguyễn Trọng Tạo biết vượt lên những rắc rối và tự khẳng định mình trong sáng tạo nghệ thuật.
          Nguyễn Trọng Tạo là cây bút tài hoa, ngẫu hứng viết văn, viết phê bình văn chương, làm thơ, làm nhạc, thiết kế mỹ thuật… Lĩnh vực nào Nguyễn Trọng Tạo cũng để lại những ấn tượng. Thơ là niềm say mê của Nguyễn Trọng Tạo: Trên con đường vô định, tôi đã đi tìm thơ gần trọn cuộc đời*.  
Là một anh lính của Quân khu Bốn những ngày chiến tranh, Nguyễn Trọng Tạo thấm thía thế nào là sự hủy diệt của bom đạn trong chiến dịch Sấm rền (Operation Rolling Thunder) của không quân Hoa kỳ trên một vùng cán soong tiếp viện cho chiến trường cuối những năm sáu mươi của thế kỷ XX. Một dải đất hẹp miền Trung mà vô vàn những địa danh Cầu Bùng, Truông Bồn, Phà Vinh, Đồng Lộc, Tùng Cốc, Long Đại… trở thành tên gọi của đau thương, chết chóc và anh hùng. Người Mỹ gọi vùng cán soong (Panhandles) là dải đất hẹp chuyển đạn và chuyển gạo, chuyển quân của Bắc Việt Nam vào chiến trường. Người dân quê tôi gọi cán soong là nơi chuyển những gì có thể nuôi được những đoàn quân chiến đấu phía trước, còn bản thân cán soong, thì đúng nghĩa cán soong, nghĩa là có những khi sạch bách không còn thứ gì có thể nuôi sống con người. Ai từng ở Khu Bốn thời kỳ kẻ thù tập trung hủy diệt kia hẳn chưa quên những năm tháng, đêm đêm hàng vạn chuyến xe đi như nước cuốn ra mặt trận, chở đầy lương thực, vậy mà những người sống và chiến đấu trên mảnh đất ấy, vì an toàn của những chuyến xe ấy, vẫn thường thiếu cơm ăn, áo mặc. Số phận của dân tộc là số phận những con đường. Sự nghiệp của thế hệ trẻ lúc ấy, trên mảnh đất ấy là sự nghiệp mở đường. Kẻ thù tập trung bom đạn tiêu diệt những con đường, dân tộc không quản chết chóc bảo vệ những con đường. Một cuộc đối đầu giữa sắt thép và lòng dũng cảm. Vì những con đường, người dân nơi đây không quản hy sinh, không tiếc bất cứ điều gì, kể cả tháo dỡ nhà xuống lát đường cho xe đi. Tất cả vì những con đường, vì miền Nam phía trước. Nguyễn Trọng Tạo chứng kiến sự hy sinh to lớn ấy của tuổi trẻ:
Nhớ một thời kháng chiến
Con đường trên tay em
                              (Đồng Lộc thông ru)
Hình tượng thơ gợi lên cái đẹp kỳ vĩ của những tháng ngày gian nan mà quả cảm kia; câu thơ nói lên rằng, mọi con đường ở đây đều một tay em mở mang; rằng, với em con đường đang được nâng niu trên tay như nâng niu những gì quý giá nhất; rằng vóc dáng của em quá đỗi phi thường, như Nữ Oa ngày trước… Một câu thơ đủ gói ghém sắc thái của cả một thời.
Nói về những ngày tháng ấy, ngòi bút của Nguyễn Trọng Tạo rất rắn rỏi:
Sẽ chẳng thành người lính bao giờ
Nếu từ nan cái chết
Đất nước những người sợ chết
Chẳng bao giờ đất nước sống bình an!
(Con đường của những vì sao)

Không ai nói chiến tranh chỉ là những điều tốt đẹp. Nhưng quả là có những điều tốt đẹp chỉ có trong chiến tranh, không thể tìm lại trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống, ngoài chiến tranh. Chẳng hạn, người ta có thể ăn, ngủ, sống chết bất cứ ngày hay đêm trên mặt đường, có thể chịu đựng mưa bom, bão đạn để mở đường, lấp hố bom, canh gác bom, tháo gỡ bom, cắm tiêu bom chưa nổ cho xe tránh những cua đường xấu, thu hút hỏa lực của kẻ thù về phía mình để tránh tổn thương cho những con đường… và lại cũng có thể hái hoa sim, trồng phong lan, lại cũng có thể hẹn hò, yêu nhau rất lãng mạn ngay cả trên con đường mưa bom bão đạn.
Trường ca Con đường của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo nói về những con người như vậy trên một trọng điểm ác liệt: Ngã ba Đồng Lộc
Nơi ngã ba trụi trần đất đỏ
Ngã ba nắng, ngã ba gió
Ngã ba đất, ngã ba trời
Ngã ba xe, ngã ba người
Ngã ba bom đạn
Đấy là những tháng năm đau thương và hy sinh vô bờ bến:
máu miền Bắc đã nhuộm bầm đất Bắc
vẫn âm thầm dành dụm
vẫn âm thầm dồn máu xuống phương Nam
…Ở đây lòng người đo bằng máu đỏ
ở đây lòng người đo bằng cấp số
những chuyến xe qua
đo bằng lưỡi mai mòn vẹt đá gan gà
…ấy là năm
dải đất hẹp miền Trung
như quãng hẹp một dòng sông chảy xiết
bom kẻ thù vung vãi nơi đây
ba giờ chiều: bom cắt đường số Một
ba giờ mười lăm phút: thông xe
bốn giờ chiều: bom cắt đường số Một
bốn giờ mười hai phút: thông xe
năm giờ chiều
rồi tám, chín giờ đêm
cuộc hành quân san sang đường chiến lược
những con đường đi cứu nước
đích gặp nhau ở phía có quân thù
Con đường của những vì sao viết cuối những năm bảy mươi của thế kỷ trước, thời điểm các nhà thơ, trong đó đa phần là những nhà thơ từng trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu trở về, đều viết trường ca như một nhu cầu tổng kết chiến tranh, như một nhu cầu thể nghiệm sáng tạo ở một thể loại đòi hỏi nhiều khả năng của người viết. Với mười chương liên tục trong một cảm hứng liền mạch tự sự xen lẫn trữ tình, nương theo một cốt truyện như chỉ là cái cớ để chuyển tải tư tưởng và tình cảm của mình, Nguyễn Trọng Tạo đã có những cố gắng đáng kể làm nổi bật hình ảnh của những con người quả cảm tại ngã ba bom, sa mạc chết Đồng Lộc: Ôi giấc ngủ trong đêm cảnh giác/ bàn chân lấm cứ mang nguyên giày dép/ hai bên người xẻng súng để song song. Hình ảnh ẩn dụ mỗi con người như một vì sao dẫn dắt ý niệm nghệ thuật của Nguyễn Trọng Tạo, đưa người đọc đến trước cái đẹp thuần khiết, không tì vết với một cảm hứng mang tính sử thi, tạo một khoảng cách giữa chủ thể trữ tình và hiện thực đời sống. Điều đó, như nhiều trường ca khác của các tác giả khác, trường ca của Nguyễn Trọng Tạo nặng chất tự sự (sử thi trong tự sự) với tả người, kể việc. Chất trữ tình với những biểu hiện tâm trạng thường bị thu hẹp, chỉ còn trong hình thức những bình luận mang đậm cảm thức chủ quan của tác giả.

 Ở những trường ca khác như Tình ca người lính viết từ năm 1983 đến năm 1997, và Biển mặn viết năm 2015, Nguyễn Trọng Tạo vẫn giữ được mạch cảm xúc trữ tình lúc thì dâng tràn, lúc thì ngầm chảy len lỏi giữa những vỉa tự sự, làm thành một hợp âm của ngôn từ và chất liệu đặc trưng của thể loại thơ, với những biến tấu đầy ngẫu hứng của sáng tạo. Tình ca người lính là những bài thơ tình chiến tranh xếp cạnh nhau trong một liên kết của cảm xúc. Biển mặn gồm sáu chương, lại trở về với quan niệm trữ tình trong tự sự mà Nguyễn Trọng Tạo thể nghiệm từ Con đường của những vì sao trước kia. Điều này cho thấy anh vẫn không ngừng thể nghiệm nghệ thuật biểu hiện của mình trong thể loại trường ca, một thể loại giàu tiềm năng nhưng cũng rất nhiều thử thách. Nhưng nghệ thuật suy cho cùng là khả năng vượt qua thử thách. Chẳng phải Nguyễn Trọng Tạo đã từng trăn trở: Xin bạn đừng buồn/ Ấy là lúc tôi đang tìm cách kể/ Cho bạn nghe cảm động dễ dàng hơn (Con đường của những vì sao). Viết sao cho vừa làm xúc động người khác, vừa không quên vai trò miêu tả hiện thực, yếu tố không thể bỏ qua của trường ca, là một đòi hỏi cao năng lực của người viết.
Nhưng ngoài trường ca Con đường của những vì sao khá ấn tượng trên kia, mảng viết về chiến tranh của Nguyễn Trọng Tạo không nhiều, và chưa có gì thật đặc biệt, nhất là những sáng tác trong thời kỳ chiến tranh. Chẳng hạn, những câu thơ này hình ảnh đẹp, nhưng sao cứ thấy chưa ra khỏi khái niệm: Đường ra trận đêm trăng vui nhất thôi/ Trăng trên cao vẫy người lên dốc/ Người lên rồi thấy trăng dưới thấp (Đường ra trận đêm trăng). Đây cũng là khái niệm: Những năm giặc giã cuối trời/ Tôi của những bài thơ đổi bằng máu đỏ tươi/ Đổi bằng máu – thơ viết về Tổ quốc (Hà Nội của tôi).  Chẳng những thế, Nguyễn Trọng Tạo cũng không vượt khỏi tình trạng liệt kê, một đặc điểm của thơ chống Mỹ:
Những thiết giáp, xe tăng còn lấm đất chiến hào
Những cỗ pháo nòng còn vương khói đạn
Những tên lửa tầm xa, tầm gần, tầm thấp, tầm cao
Những hạm tàu ngực hằn từng ngấn sóng
Những đoàn xe từng lao bỏng đường dài…
Đi lên pháo binh
Đi lên công binh
Đi lên những đội quân đặc biệt
Đi lên những đội quân du kích…
Quả là chân thật và hùng hồn. Tôi nhớ hồi nhỏ có lần bà tôi dặn nếu đi đêm hay sợ thì cháu cứ hát to lên cho đỡ sợ. Nguyễn Trọng Tạo không sợ, nhưng quán tính của giọng thơ một thời đã cuốn anh vào từ trường của nó. Thơ Nguyễn Trọng Tạo thời kỳ này đúng là một cuộc diễu binh của ngôn từ trùng điệp, nhưng nếu liệt kê như vậy thì bao giờ mới đủ? và dù có liệt kê nhiều hơn thế, vẫn không thấy những điều thiết yếu, hệ trọng của thơ: tâm hồn và tâm trạng của người viết? Thơ có thể không phải là cuộc đi xa, không ưa những gì tải nặng, thơ cần bay cao thì phải? Tất nhiên đó là câu hỏi, là đòi hỏi sau này, còn tại thời điểm Nguyễn Trọng Tạo viết những dòng thơ trên, mấy ai vượt khỏi trí khôn của thời đoạn?
Tuy vậy, thơ viết về chiến tranh của Nguyễn Trọng Tạo không phải không có những câu thơ gợi cảm vượt ra khỏi khái niệm: Tiếng đàn ta lư chạm giọt sương rừng/ Tiếng hát Đam San rì rầm gió núi/ Tiếng chiêng trống và tiếng gầm đại bác/ Vọng âm thầm qua mỗi bước chân tôi (Tổ quốc ở biên giới). Chiến tranh đang được cảm nhận qua một tâm hồn âm nhạc. Cái thực đang bị chìm xuống dưới cảm nhận về cái đẹp. Hoặc có khi cái đẹp đến sau: Từ một vài câu thông thường, bỗng nhiên có được một câu thơ rất gợi cảm: Nói về súng dẫu nhiều-chưa nhàm cũ/ Nói mất mát, hy sinh dẫu cạn lời chưa đủ/ Núi lặng thầm khóc bạn dưới sao khuya (Những người lính đi qua thành phố). Núi lặng thầm khóc bạn dưới sao khuya là câu thơ bắt được không phải vô tình. Ở đó tác giả không còn chú tâm vào cái thực nữa, mà chú tâm vào tâm trạng, vào cái đẹp. Ở đó, không còn phải bận tâm nói điều gì nữa, mà là cách nói. Trên con thuyền thực của thơ là cánh buồm ảo cùng với ngọn gió ảo của tâm hồn hướng tới chân trời của cái đẹp. Những câu thơ này cũng vậy, những liên tưởng bất ngờ mở rộng biên độ của hiện thực, đưa người đọc tới những vẻ đẹp khác của cái không nhìn thấy:
Con bìm bịp kêu Nam
Con đa đa kêu Bắc
Câu thơ đi tiền trạm những hồn người.
                             (Những nhà thơ lính)
Chiến tranh giải phóng dân tộc kết thúc, Nguyễn Trọng Tạo chưa đến ba mươi tuổi, lứa tuổi đang sung sức sáng tạo. Trong khi nhiều cây bút đang theo quán tính cũ của thơ chống Mỹ, Nguyễn Trọng Tạo như một trường hợp khá hiếm hoi tự văng ra khỏi quán tính ấy và tìm một lối đi khác. Thơ Nguyễn Trọng Tạo bỗng nhiên đổi giọng, (hay là vỡ giọng) gay gắt hẳn lên: Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ/ Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ bạn bè thân thọc súng ở bên sườn, bỗng nhiên xông xáo hẳn lên trong cảm hứng gây sự, lý lẽ nồng nhiệt trong tranh biện, căn vặn trong tự vấn mang ý nghĩa xã hội: thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ câu trả lời thật không dễ dàng chi (Tản mạn thời tôi sống). Bài thơ viết năm 1981, năm đất nước vô vàn khó khăn, ăn hạt bo bo thay cơm, trằn lưng trên điểm tựa chống xâm lăng, hẳn nhiên những câu hỏi nhức nhối trong thơ Nguyễn Trọng Tạo được vọng tới từ những nhức nhối trong đời sống, bắt nhịp với những vấn đề xã hội, chuyển sang thơ tâm trạng, có thể nghe được cái bên trong thật sâu nhịp đập lo âu của trái tim người viết. Thơ ấy đang đến đúng nơi cần đến: một sự thông cảm, chia sẻ với người đọc: có bao người ước cuộc sống bình thường/ như một thuở xa xôi mình đã có/ thuở miếng ăn không phải bàn đến nữa/ thuở chiến tranh chưa chạm ngõ nhà mình. Một cuộc sống bình thường như vậy vẫn là điều xa vời. Đất nước đã bị vắt kiệt sau chiến tranh giải phóng, thiếu đến từng miếng ăn, con người không dám mơ về mai sau tốt đẹp, chỉ mơ về một thuở xa xôi xưa kia từng có nhưng đã bị tước đoạt: thời tôi sống thêm một lần súng nổ/ trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy! Những câu thơ như lời an ủi: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa/ như thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đến (Tản mạn thời tôi sống). Những năm tháng ấy, đói cơm, rách áo chưa phải là cái đáng sợ nhất. Cái đáng sợ nhất là đói niềm tin. Thu Bồn từng viết: Tôi chẳng sợ cuộc chiến tranh trong hòa bình/ Nhưng lòng tin, tôi có lúc đói lòng tin. Võ Văn Trực cũng chung một tâm trạng như vậy: Tôi đã đi quá nửa cuộc đời/ Qua những thập kỷ hát ca, những thế kỷ anh hùng/ Say mê quá, chợt bây giờ nhìn lại/ Chứa bao điều bão tố ở bên trong. Nguyễn Trọng Tạo da diết hơn. Bài thơ Tin thì tin không tin thì thôi, sau cái giọng điệu tưng tửng là nhức buốt những điều không thể lý giải: Bốn lăm bậc thời gian dốc ngược, giữa cái qua được và cái không qua được, tác giả nói về sứ mệnh của người sáng tạo: nhưng tôi người cầm bút, than ôi/ Không thể không tin gì mà viết (Tin thì tin không tin thì thôi). Những câu thơ như vậy, đọc lên lúc này thấy cũng “thường thôi”, nhưng hồi đó được xem như gõ vào cánh cửa thâm nghiêm của những giáo điều. Thơ Nguyễn Trọng Tạo thời gian này đang có ý thức vượt qua thành trì vây bủa, rào cản của những giáo điều trong nhận thức, tháo gỡ và tự vượt lên những tiết chế trong cảm xúc, loại dần những khuôn sáo trong ngôn ngữ, những yếu tố đã từng bó buộc thơ ca một thời. Cái mới của Nguyễn Trọng Tạo không phải là cái chưa từng hiện diện trong thơ trước đó, mà là cái đang có thể bị nghi ngại trong hiện tại. Nguyễn Trọng Tạo cũng đã phải trả giá. Nhưng cầm bút hơn nhau ở chỗ có khi chỉ cần đi trước một bước, cho dù chỉ nhích được một chút nhỏ về phía trước. Với ý nghĩa đó, có thể xem ý thức tự thoát khỏi những ràng buộc của tác giả, để đưa con người cá nhân của mình tiến về phía cần được giải phóng, cần được tự do, qua đó bộc lộ một cách tự nhiên, trung thực, không quan ngại những suy diễn và trả giá có thể có, không quan ngại bị “dòm qua lỗ khóa” vào riêng tư của mình là một sự dấn thân của cái tôi đáng ghi nhận. Sự dấn thân ấy như là một bước tiến về phía trước của sáng tạo, nếu quan niệm sáng tạo là tự biểu hiện con người cá nhân của mình, là bộc lộ cái tôi và “quyền được nói về cái tôi” của mình. Đó là một bước tiến trong văn chương, vượt qua những e ngại như một điều hết sức cần tránh, trước đó.

Trước hết là cái tôi đa cảm: Hoa đã tặng. Người đã không còn nữa/ Em đã yêu. Em đã bỏ tôi đi (Đêm cổ điển), Cầm lòng sao cứ vân vi/ Mây thì nặng trĩu, núi thì nhẹ tênh (Cầm lòng). Nếu thi sỹ là kẻ vô tình thì thế gian sẽ khỏe re, sẽ không có những nhà thơ buồn, thế gian sẽ không có cái trái khoáy mây thì nặng, núi thì nhẹ. Cái nặng nhẹ này đang được bắc lên chiếc bàn cân có tên gọi là đa cảm. Và vì thế, mọi điều trên thế gian qua cách nhìn của nhà thơ, trở nên sống động hẳn lên. Và không phải điều gì cũng giải thích được đối với thơ.
Cái tôi của kẻ lãng mạn, đa tình. Nhà thơ nào mà không lãng mạn, đa tình? Như một người thấy đẹp là mê (Tự họa), hoặc nhìn đời qua con mắt của em (Luis Aragon), thế gian hiện lên trong thơ Nguyễn Trọng Tạo qua những bóng giai nhân: Đến Tuyên Quang: Da trắng chân dài đèo cao váy bay (Qua miền gái đẹp), rồi: trở lại dòng sông bờ Cỏ Thi xanh mướt/ xưa em đánh mất trâm giờ lặng lẽ tôi tìm (Tái diễn), khi khao khát: sao anh bỗng thèm chết đuối cùng trăng (Nghiền ngẫm), khi lang thang bất định: mình anh khoác cả nỗi đau/ ngày xuân mưa rắc lên đầu muối tiêu (Cảm thông), khi mê đắm: cứ tưởng một lần cho đỡ khát/ nào ngờ bùa ngải lú trời xanh (Thiên thần)… Và cả những khi trong niềm hoan lạc mà vẫn không vui: Anh ngỡ chết trong hoa những đường cong mỹ mãn/ Anh nhắm mắt hồi sinh nghe hoa thở nồng nàn…/Anh ôm ngủ một đóa hoa màu nhớ/ Một đóa hoa biết nói tiếng dịu dàng (Đà Lạt và hoa), Thời gian rụng úa vai người/ Ước chi mua được nụ cười còn nguyên (Cuối năm ngẫu hứng chợ chiều), Tiếng yêu tôi gửi lên trời/ Hóa cơn mưa ướt cả người lẫn tôi (Ngã sáu chiều mưa).
Cái lãng mạn trên kia của Nguyễn Trọng Tạo là lãng mạn nơi trần thế, của cái tôi muốn được dâng hiến, muốn được riêng tư. Thơ Nguyễn Trọng Tạo đôi khi mon men đến bờ siêu thực, đến bờ của một thực tại khác trong biển mờ vô thức. Thực tại ấy như đang choàng lên chiếc voan mỏng của ham muốn: thân thể em mây trắng dệt nghìn năm lụa trời non nõn trắng…/Ru cô đơn chìm vào thịt da đêm trắng muốt (Ru trắng). Nguyễn Trọng Tạo nhìn mọi việc qua con mắt của một họa sỹ vẽ nuy: Bóc đi làn sương mỏng/ Núi khỏa thân mơ màng (Bóc đi nỗi nhớ mùa), Chỉ còn lại dấu nằm lõa thể/ Anh áp mặt vào mùi sữa thơm và gọi tên nàng (Ngày chủ nhật rỗng). Có gì đó tựa như Bích Khê, Vũ Hoàng Chương xa, Hoàng Cầm gần, như ẩn ức, hưng phấn lẫn khuất trong thơ Nguyễn Trọng Tạo những ham muốn nhục dục, không hề có ý che đậy, ngược lại như đang muốn nói to lên: Anh muốn viết một bài thơ sex/ Bên những bài thơ sex em đã viết (Em đàn bà), Đêm nay anh ném nỗi nhớ khỏa thân ra khỏi tóc/ thấy bên đời/ chuyện cũ đã tân trang (Anh ném em lên trời). Anh muốn đem tặng: Em cỏ khát. Ta mưa rào đầu hạ (Cỏ và mưa). Anh nhìn mọi vật trong cảm thức của người ham muốn, người chinh phục, của người mê đắm: có lúc cuồng si, tôi đã ôm em lăn vào cỏ/ ngỡ thiên nhiên mãi mãi tuổi dậy thì (Triết lý cỏ), Em nguyên thủy duỗi dài trên mây xốp/ trắng trong ơi chìm tận đáy Tây Hồ/ Anh ngụp lặn đáy sâu vớt mùa thu chết đuối (Mây trắng)…Vượt qua những rào cản tâm lý trong một đề tài nhạy cảm, mà những người cùng lứa tuổi Nguyễn Trọng Tạo ngại ngùng, đắn đo, nhất là trong lĩnh vực thơ (vì nhiều lí do chứ không phải chỉ do đạo đức giả) cho thấy sự dấn thân quả quyết của Nguyễn Trọng Tạo. Một sự dấn thân chấp nhận được, không gây nổi cộm cho người đọc, có gì đâu mà giấu giếm lòng nhau/ ta hát niềm vui và hát cả nỗi đau (Những gì tôi có thật )… Hóa ra nếu nói một cách thành thực, điều tưởng khó cũng thành dễ, và hơn nữa, nói ra được như vậy, hình như cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.
 Cái tôi của người muốn được tự do. Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi Nguyễn Trọng Tạo là kẻ ham chơi. Không có từ nào đúng hơn mấy từ này. Vừa Hà Nội đã lại có thể về Vinh, vào Huế, vừa Sài Gòn hôm trước, hôm sau đã lại Vũng Tầu, Côn Đảo…Cuộc nhậu nào cũng thường nghe một ai đó nói vừa gặp Tạo hôm qua, vậy mà hôm nay Tạo đã ở rất xa rồi! Nguyễn Trọng Tạo là kẻ lang bạt kỳ hồ đáng yêu, một kẻ lãng du chân trời góc bể, không ở lâu tại một địa chỉ nào: Một ngày Hà Nội nôn nao/ Nhà mình mà cứ hết vào lại ra/ Nghe còi tầu vẳng ngoài ga/ Bồn chồn ngỡ tiếng trời xa gọi mình (Một ngày Hà Nội của anh). Còi tầu luôn vang lên trong tâm tưởng Nguyễn Trọng Tạo: Tôi có thể quay về, mà cũng có thể không (Trong đêm thị xã). Cũng đôi khi tiếng còi tầu như một ám ảnh: Xin thứ lỗi, lần đầu anh biết sợ/ tiếng còi tầu thảng thốt phía ngoài ga (Em). Nguyễn Trọng Tạo cũng là người mặn chuyện, với âm điệu nhã nhặn, ngôn từ hồn hậu, ít khi anh làm mất lòng người khác. Nếu không khen được thì im lặng, còn đâu, một lời động viên luôn luôn không thiếu trong anh. Vì vậy, góc sân nào, cuộc chơi nào hình như anh cũng nhập vai được, khi thì một mình, nhưng lắm khi cũng đa mang, đèo bòng lỉnh kỉnh.
Cái tôi của thú vui trần thế. Không khó khăn lắm để nhận ra Nguyễn Trọng Tạo trong thơ, là một tửu đồ có hạng, môn đệ sủng ái của Lưu Linh, của Lý Bạch. Chẳng có lỗi gì cả nếu mọi chuyện đều ở chừng mực cho phép, và hơn thế, một chút men làm thăng hoa trong sáng tạo, biết đâu lại vớt được vài câu thơ lạ nào đó, như Bùi Giáng chẳng hạn.

Huế với Nguyễn Trọng Tạo là ký ức những ngày vui tràn cung mây cùng bè bạn. Huế qua cảm quan của Nguyễn Trọng Tạo, một người mang nhiều khát vọng: Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say (Huế 1). Vâng, chỉ có đền đài ngả nghiêng thôi. Chỉ tại bụi tre mọc giữa đường không tránh ra thôi. Đã mượn đến ly chén vào buổi ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu thì không ai muốn tự nhận mình kém, mình đuối, không ai muốn bạn mình bớt vui trong cuộc nhậu. Hơi men làm thật hơn trong lời nói, đáng yêu hơn trong cử chỉ, lung linh hơn khi nhìn cuộc đời. Nhưng cũng có lúc Nguyễn Trọng Tạo không thể chối mình đang lao đao: Đất trời lướt khướt dìu nhau bước (Bạn bè ở Huế). Hoặc: vẫn còn chếnh choáng chai mưa/ tôi tin là “rượu” em mua của trời (Làm đền). Ruxun Gamzatov từng viết: Hãy tránh cho tôi khỏi sự tỉnh táo quá mức, vì khi đó con người nhìn mọi cái xấu đi trăm lần **. Đúng vậy, rất nhiều cung bậc của thiên nhiên, của lòng người và cuộc đời đã đẹp hơn lên từ cái nhìn thị cảm lắng qua tâm cảm của Nguyễn Trọng Tạo: cây thả xuống ta lá vàng/ gió thả xuống ta mù sương (Mộng du), Có khi nắng chết trong màu lá/ Mẹ nhặt về nhen ngọn lửa chiều (Có khi), Rượu ngon nhắm với nói cười/ Nghe thời gian tím một thời Phù Dung (Chiều rơi), Thế mà sau lớp bụi mờ/ cứ tin có một câu thơ đợi mình (Hình như), nhớ nhau cười nói vang đêm vắng/ trái đất như là giọt rượu bay (Đà Nẵng không đề)… Không hẳn là siêu thực, nhưng có một thực tại khác biêng biêng so với cái thực như là cõi huyễn ẩn hiện trong những câu thơ của một người nhìn mọi cái không quá mức tỉnh táo như Raxun nói. Ở đây nên gọi là sự say đắm, là chất men của sáng tạo, của thơ.
Nhưng, với một nhà thơ, một nhạc sỹ chén rượu cũng không ngăn được cô đơn: Tôi còn cái xác không hồn/ cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai (Chia). Và không chỉ cô đơn mà là nỗi đau: Vẽ tôi mực rượu giấy trời/ Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau (Tự họa), Có một ngày rượu mặn hơn nước mắt (Gửi Ngô Minh). Đã trót mang lấy nghiệp: ta là cây ghi ta mang hình bầu rượu/ hát tiết tấu men em (Gửi Nguyễn Thụy Kha), đã trót đa tình: Chia cho em một đời say/ một cây si với một cây bồ đề (Chia), đã trót quá đà thì:…  Là khi tỉnh giấc trong đêm/ Một mình ta thấy ngồi bên nỗi buồn/ Là khi cạn một ly tràn/ Đáy ly ta lại thấy làn mi xanh (Sonne buồn). Tâm trạng Nguyễn Trọng Tạo có gì đó giống tâm trạng cô đơn của nhạc sỹ Thanh Tùng: vắng em đời còn ai với ai/ Ngất ngây men rượu say (Một mình). Quả tình, men rượu thường đến đúng vào lúc nghệ sỹ cần đến nó nhất, trở thành một người bạn đồng hành xoa dịu nỗi đau nhân thế.
Và lãng du nào rồi cũng có lúc nhớ nhà. Cái nhà trên tầng sáu khu tập thể Phương Mai ở một ngày cũng thành thân thuộc, đi xa đến đâu rồi cũng muốn quay về, cho dù:
Đời phiêu dạt sáu tầng mây
Từ trên chót đỉnh nhìn ngây phố nhà
Nào ngờ cỏ đã đơm hoa
Găm vào ta vết xót xa tận lòng
                             (Cỏ may trên sân thượng)
Cuộc chơi nào hình như cũng mang trong mình mầm mống cô đơn. Cái cô đơn của Nguyễn Trọng Tạo không có gì lạ. Nó là một kết thúc buồn: Thời gian, tiếng nhạc không lời/ Đầu năm là sóng cuối đời là mưa (Không đề năm mới). Nguyễn Trọng Tạo có những ngày hạnh phúc và sau đó là những ngày buồn đau ở Huế. Từ xa đến như một kẻ xa lạ, từ đó ra đi như một kẻ bị thương, và từ nơi khác trở về như một kẻ cô đơn: Trở lại Huế mưa vẫn mưa như cũ/ Màu trời buồn như thuở ra đi. Thành phố có nhiều bạn bè, nhưng thành phố cũng vắng vẻ trong tâm trạng tĩnh lặng: Tiếng lá rơi ngõ vắng cũng giật mình (Trở lại Huế), Con đường, con đường cũ/ Người về lạ bước chân (Ta của thời đang xuân). Thành phố của những ấn tượng ban đầu đầy cảm giác thanh xuân: Mãi bí mật những vườn trong phố/ rụng trái đào tiên xuống đất trần (Ấn tượng Huế). Thành phố nơi những kỷ niệm đã lâu không ai nhắc/ Bỗng hiện về ngồi chật cả không gian. Và cũng chính tại đó: một con thú bị thương về hang ổ/ liếm vết thương bằng âm nhạc sương mù (Một mình). Nhưng không thể cứ triền miên trong cô đơn, Nguyễn Trọng Tạo là một cá tính mạnh, không tư lự nhiều, không buồn lâu, hoặc không buồn ra mặt, có thể quên sông Hương gió vơi đầy sau vai (Cây hoa phượng tình cờ) để đến với công việc và thú vui khác…
Nhìn chung, Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ rất có ý thức tự làm mới thơ mình. Thơ anh được viết bởi những cảm xúc chân thành của một tâm hồn cởi mở, dám nói lên những khát vọng, những nỗi đau riêng tư của mình, dám nói lên những nhức nhối của xã hội, của cuộc sống, tạo ra những đồng cảm của người đọc.
Nguyễn Trọng Tạo không chỉ làm thơ, anh còn viết truyện: Miền quê thơ ấu, Ca sỹ mùa hè, Khoảnh khắc thời bình, viết tiểu luận phê bình: Văn chương, cảm và luận. Văn xuôi của Nguyễn Trọng Tạo trong tiểu luận phê bình được viết mềm mại, trực cảm và tinh tế khi tiếp cận với tác phẩm. Anh cũng là nhà thơ thường rất ưu ái nâng đỡ những cây bút trẻ. Hẳn nhiên, cũng có những cây bút trẻ được anh cổ xúy ngày nào, giờ không còn viết được nữa. Vấn đề có phải, có những phá cách của vài cây bút trẻ làm mất đi sự lịch lãm của thơ Việt, mà anh không chỉ cho họ cần tránh, cách tránh ?
Nguyễn Trọng Tạo còn là nhạc sỹ có những ca khúc được thế hệ trẻ ghi nhớ: Làng quan họ quê tôi (phổ thơ Nguyễn Phan Hách), Khúc hát sông quê (phổ thơ của Lê Huy Mậu)… Nhưng hình như Nguyễn Trọng Tạo chỉ thích phổ thơ người khác, cho dù anh rất cố gắng và cố ý tạo nhạc điệu trong ngôn ngữ thơ mình. Những cố gắng đó dường như cũng chỉ đủ làm câu thơ trở nên tưng tửng, còn thiếu sức ngân, còn chưa thành những ca từ chứa nhạc. Chẳng hạn, đây là một cách tạo nhịp, tạo nhạc vần nối, vần gánh theo kiểu dân ca: cây bưởi đơm hoa cây cà đậu quả (Cổ tích thơ tình), Đen lúng liếng dân ca đen ngân nga lễ hội (Ký ức mắt đen), Phương ấy phương nào lao xao cuộc chiến/ Rồi một mùa đào rụng vào im lặng (Chim én), Tranh treo mồng tư ngất ngư mồng bảy  (Bức tranh giêng)…, đây là lối tạo nhạc, tạo nhịp dựa vào sự cộng hưởng của những thanh bằng gợi sự châng lâng, mênh mang: Một chiều chia ly chảy đi sông ơi/ Một đời dân ca cuồng si đôi môi/ Hoang mạc biển xanh cháy đêm lân tinh/ Còn mảnh mai em vạm vỡ âm thanh (Lâm Phương hát)… Nhưng cũng nhiều lúc tác giả hơi lạm dụng kiểu làm này. Không phải toàn bộ, nhưng khá nhiều bài thơ hình như Nguyễn Trọng Tạo viết trong hơi men, không hẳn say nhưng cũng đã la đà, xộc xệch. Bởi vì thơ anh có cái men từ đâu đó chuyển qua ngòi bút, có cái dài lời của những người khó tự chủ như kiểu cứ sợ người khác chưa hiểu hết ý mình, lại có cả cái hơi dễ dãi trong ngữ điệu và ngôn từ. Chẳng hạn, những câu thơ bị lạm dụng âm điệu: hồn chẳng còn thơ, hồn khóc lơ ngơ/ ngày buồn ú ớ đêm vui lờ nhờ (Giọng điệu); có những kiểu dùng từ gây sốc: Người ta làm thơ khi cười khi khóc/ Riêng anh làm thơ phọt từng miếng óc (Thi nhân). Thơ phần nhiều cốt để nói đẹp chứ không phải cốt để nói sợ!…
Có lần Nguyễn Trọng Tạo viết về mình: Hoa ly vàng mùa hạ- chính là tôi (Hoa ly vàng). Câu thơ đẹp nhưng chưa thật đúng với Nguyễn Trọng Tạo. Nếu là hoa ly vàng mùa hạ, hoa ấy phải bầm dập, phải lăn lóc, phải quăng quật cùng gió bụi của thời gian, chứ không phải an nhiên, tĩnh tại như vậy. Có một câu thơ khác, cũng của anh, đứng cuối bài Chia, một bài lục bát da diết, đượm buồn, theo tôi là bài hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo, nói đúng nhất về phận người của anh sau những năm tháng lãng du: chỉ còn cỏ mọc bên trời/ một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm (Chia). Có phải vì trong câu thơ này ẩn chứa sự khiêm nhường của một con người nhiều trải nghiệm, khi đã thức ngộ mọi điều, lại ẩn chứa những nỗi đau nhân thế, nỗi buồn trần gian mà những ai đã trót làm phận thi nhân, ít nhiều đều phải vay trả, không sao tránh được?

Tháng 8 năm 2016

lăng mộ đá toyota thanh hóa