Bài viết của GS Nguyễn Lân Dũng

Vài lời khuyên nếu bạn đã 60 tuổi
Thứ tư - 07/09/2016 05:11
·                                     Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

       Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Số người sống đến 100 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ là 1 trên 100.000 người.
       Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.
       Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.
       Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai gì nữa đâu.
       Đừng lo lắng nhiều quá về con cái, vì con cái có số phận của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.
       Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Chúng tất nhiên biết lo cho cha mẹ, dù có lòng nhưng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm ăn và nhiều ràng buộc khác nên không thể giúp bạn được đầy đủ.
       Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khỏe với tiền tài. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khỏe. Khi nào thì bạn thôi kiếm tiền? Và có bao nhiêu tiền là đủ?
       Dù bạn có cả ngàn mẫu đất, bạn cũng chỉ ăn khoảng vài bát cơm mỗi ngày; dù bạn có cả chục biệt thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng vài mét vuông để ngủ vào ban đêm.
       Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có thể có những chuyện buồn phiền riêng.
       Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn con mình. Nhưng bạn có thể so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể làm thay đổi, vì chẳng có ích gì, mà lại còn tổn hại cho sức khỏe bạn…
       Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc cho chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn đúng là đã sống hạnh phúc từng ngày.
       Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “có được”.
       Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ ít đến.
       Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một vài thứ thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm với tràn trề sức khỏe.
       Và, nhất là cần biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn bạn bè nữa. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và thấy còn có nhiều người cần đến mình. Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, buồn tẻ.
        Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

       (Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn đã trên 60 tuổi, hay những người không bao lâu nữa cũng sẽ đến tuổi 60).

Hai lần gặp Bác

( Hồi ký của Nguyễn Quang Huệ )

         Tôi ra trường đầu năm 1962 và được phân công về Viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc. Trong quãng thời gian từ 1963 đến 1965 tôi may mắn được gặp Bác hai lần.
        Lần thứ nhất: Đó là ngày 17 tháng 3 năm 1963 chúng tôi đang làm việc ở công trường khu tập thể Kim Liên ( Hà Nội ) thì có đoàn xe 3 chiếc: một xe màu đen và 2 xe com măng ca đi vào công trường. Chẳng có một thông báo nào trước đó nên không ai để ý. Đến khi có mấy người trên xe xuống trước mở cửa, thấy một cụ già bước ra hao hao giống Bác thế là mấy người hô to Bác Hồ đến, Bác Hồ đến. Cả công trường náo động hẳn lên người nọ truyền tai người kia, bỏ hết công cụ đang làm việc, hướng theo đám đông chạy tới.  Chỉ một loáng sau đã đông nghịt hàng mấy trăm người, không còn chỗ chen chân. Vậy là Bác đứng giữa một khoảng trống rộng do các đ/c bảo vệ và ban chỉ huy công trường dãn dẹp. Ban chỉ huy cử ngay bảo vệ đem một cái bàn gỗ và micro ra cho Bác đứng nói chuyện ngay tại hiện trường. Những tiếng hô vang lên: Hồ Chủ Tịch muôn năm, Bác Hồ muôm năm. Ai nấy đồng thanh hưởng ứng. Tất cả đều rạng rỡ vì được gặp Bác, một điều mong ước mà không phải người nào cũng may mắn được gặp.
        Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng. Mọi người im phăng phắc để nghe Bác nói chuyện. Bác nói đại ý: Hôm nay Bác về thăm Kim Liên, thăm các cháu đang xây dựng khu nhà mới tại đây. Bỗng Bác hỏi Kim Liên là gì các cháu biết không? Mọi người suy nghĩ để trả lời nhưng Bác giải thích luôn: Kim là vàng, liên là sen. Kim Liên là bông sen vàng, thật quý thật đẹp có phải không? Mọi người vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng theo cách giải thích của Bác. Các cháu đang xây dựng khu tập thể Kim Liên sao cho đẹp, cho bền chắc, chất lượng cho tốt. Nếu thực hiện được như vậy năm sau Bác lại về thăm Kim Liên. Cả đám đông vỗ tay vang dậy và hứa sẽ làm theo lời Bác để năm sau lại đón Bác về thăm. Buổi nói chuyện tuy ngắn ngủi nhưng chúng tôi nghe như nuốt từng lời Bác nói. Sau đó Bác chúc mọi người mạnh khỏe, công tác thật tốt. Các đ/c hướng dẫn Bác vào thăm nhà ăn của khu tập thể, và hướng dẫn Bác ra xe đi theo lối khác mà không quay lại đường cũ. Bao người hụt hẫng tiếc nuối vì đứng đợi Bác quay ra. Nhưng Bác đã đi khỏi công trường lâu rồi mà không ai biết.
        Thực ra trước lúc xuống xe Bác đã quan sát, kiểm tra một vòng những ngôi nhà 4 tầng đã lắp ghép xong. Bốn nhà khu A đã có người ở, đó là các chuyên gia Triều Tiên và chuyên gia Liên Xô. Mấy ngôi nhà khu B mới lắp xong và đang hoàn thiện. Tuy vậy đường sá vẫn còn ngổn ngang. Vài khu đất trống chưa xây dựng công trình, một số cơ quan tranh thủ trồng khoai, trồng rau để cải thiện bữa ăn cho tập thể.
        Khu tập thể Kim Liên ứng dụng phương pháp lắp ghép tấm lớn của Triều Tiên lần đầu được xây dựng tại VN. Những khu nhà 4 tầng lắp bằng những tấm tường lớn đúc sẵn bằng bê tông xỉ có cốt thép, để sẵn những mối nối để hàn với nhau. Sau khi đổ bê tông vào khuôn, cấu kiện được chuyển vào buồng hấp bằng hơi nước nóng 100 độ trong 24 giờ. Lúc đó bê tông đã ninh kết gần 100% cường độ thì được đem ra hiện trường chuẩn bị lắp ghép bằng cần trục tháp.
         Năm 1954 ký kết hiệp định đình chiến Giơ ne vơ. Năm 1958 Bác đi thăm một số nước XHCN trong đó có Triều Tiên, Bác thấy họ xây dựng theo cách này rất nhanh nên đã đặt vấn đề với bạn giúp VN áp dụng công nghệ này. Thế là chuyên gia bạn đã được cử sang, phía VN cũng cử thực tập sinh đi Triều Tiên học tập. Chỉ mấy năm đã hình thành khu tập thể khang trang và đẹp đẽ. Khu tập thể Kim Liên ra đời đã giảm bớt khó khăn về chỗ ở của bao cán bộ và chuyên gia các nước lúc bấy giờ.
        Công lao to lớn của Bác đối với chúng ta không gì so sánh được, phải không các bạn…Bác đã đi xa 48 năm nhưng những kỷ niệm trong tôi chưa bao giờ phai mờ và luôn thầm hứa với Bác sẽ làm việc thật tốt, sống gương mẫu noi theo tấm gương của Bác…

        Lần thứ hai:
        Khoảng tháng 11 – 1965 tôi và đoàn đại biểu Đoàn Viện Thiết kế vinh dự được mời dự đại hội Đoàn các cơ quan Trung ương họp tại hội trường Bộ Lao Động. Các đại biểu được thông báo sử dụng quần áo tối màu để tránh máy bay địch. Lúc đó tôi là Ủy viên BCH Đoàn Viện và là bí thư Chi Đoàn Thiết kế 1, là đơn vị xuất sắc ba năm liền đươc công nhận tổ LĐXHCN (lao động xã hội chủ nghĩa) của Đoàn Bộ Kiến Trúc nên may mắn được mời tham gia Chủ Tịch Đoàn.
        Khi đ/c Đoàn Tiến Duyệt Bí thư Đoàn đang đọc báo cáo tổng kết phong trào "Ba sẵn sàng" của Đoàn các cơ quan Trung ương được khoảng 15 phút, chúng tôi nghe tin Bác sẽ đến Đại hội, cả hội trường nhốn nháo hẳn lên, chẳng ai nghe gì nữa. Thấy không khí ồn ào, đ/c Duyệt dừng lại và đề đại biểu trật tự ngồi tại chỗ chờ đón Bác. Khoảng 10 phút sau Bác đến, cùng đi có Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Cả hội trường trên 450 đại biểu đứng dậy vỗ tay vang dậy đón chào Bác. Bác và Thủ tướng đi thẳng lên Đoàn Chủ tịch. Đưa tay ra hiệu cho chúng tôi yên lặng, Bác nói: Bác và đ/c Thủ Tướng thay mặt Trung ương Đảng và Chính Phủ đến thăm Đại hội và nói chuyện với thanh niên về phong trào “Ba Sẵn sàng”. Trung ương Đoàn cũng đã báo cáo những thông tin cần thiết cho Bác.
        Trong số 450 đại biểu dự Đại hội này có 113 cháu gái, có 120 cháu quê miền Nam, như thế là tốt. Số cháu gái đó chưa phải là nhiều cho nên các cháu phải cố gắng vươn lên. Phong trào "Ba Sẵn sàng" đã có thành tích khá, nhưng phải khiêm tốn, chớ phô trương hình thức.
        Anh Phạm Tiến Duyệt có ý muốn thanh minh nhưng Bác đụng nhẹ vai anh Duyệt tỏ ý nhắc nhở, sau đó Bác nói tiêp:
        Trong số hơn 45.000 đoàn viên, thanh niên cơ quan trung ương ghi tên tình nguyện "Ba sẵn sàng", mới có một nửa được công nhận. Số còn lại phải làm thế nào xứng đáng được công nhận danh hiệu "Ba Sẵn sàng". Các cháu phải ra sức phấn đấu hơn nữa.
      Mấy năm qua các cháu đã giúp các bộ, ngành và chính phủ hoạt động tốt, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng được giao. Bác nhắc các cháu phải đẩy mạnh thi đua giữa địa phương này với địa phương khác, ngành này với ngành khác, cơ quan này với cơ quan khác để học tập lẫn nhau và cùng nhau tiến bộ. Các cháu nữ phải học tập phụ nữ Nam Ngạn và phụ nữ thôn Bùi…
        Đến phần khen thưởng: Bác tặng huy hiệu của Người cho 24 đoàn viên xuất sắc. Đọc tên từng người, đến số 16 là Bùi Ngư, khác với thông thường, Bác đọc chậm, nhỏ hơn cả trích ngang, đột nhiên Bác hỏi Cháu Bùi Ngư đâu? đ/c Ngư lúng túng hồi hộp đứng dậy: Thưa Bác Cháu đây ạ. Bác đọc chậm: Bùi Ngư, dân tộc Mường, Ký thuật trung cấp điện Viện Thiết kế Dân Dụng bộ Kiến Trúc. Bác dừng lại nói khôi hài: Bác tưởng cháu làm nghề nuôi cá chứ? Cả hội trường cười ồ vì câu hỏi bất ngờ, dí dỏm của Bác, vỗ tay tán thưởng, phấn chấn rất lâu. Điều đó chứng tỏ Bác rất quan tâm và khích lệ đến các cán bộ là người dân tộc…
        Kết thúc buổi nói chuyện bác nói: Bác nhờ các cháu đại biểu dự Đại hội hôm nay chuyển lời hỏi thăm thân ái của Trung ương Đảng và Chính phủ đến các cháu đoàn viên và thanh niên đang công tác, sản xuất, chiến đấu và học tập ở các địa phương…
        Bác xin phép ra về. Cả hội trường đứng dậy tiễn Bác và tràn ra cửa để được gần Bác lần nữa, nhưng các đ/c bảo vệ đã đưa bác đi ra bằng cửa khác. ..

        Tôi ngồi cách Bác một hàng ghế, bàn trước bàn sau trên Chủ tịch đoàn, lòng lâng lâng niềm vui hạnh phúc.
        Các bạn ạ, Làm công tác Đoàn cơ sở cũng có lúc được may mắn như vậy đấy. Tôi đã được gặp Bác hai lần…

                                                                                             Hà Nội ngày 18 - 5 - 2017

                                                                                                       


Một thời

Bài thơ cũ nay Fb cho tôi ôn lại.

Một thời...
20:42 | Nhãn: Bài viết mới

Một thời hữu nghị đôi bên
Một thời dao quắm vung lên bổ đầu (1) !
Một thời gà gáy gọi nhau
Một thời chọc gậy (2)... phá rào tràn sang (3)...
Hoan hô mười sáu chữ vàng
Nhưng còn khoản nợ "trả Hoàng..."(4) thì sao ?
Nợ nần đừng để quá lâu
Lưỡi bò liếm cả yết hầu Biển Đông !?(5)
Xóm giềng nhức nhối mặc lòng
Dân nhiều, nước lớn mà không chung tình !...
Pháp xưa xâm lược nước mình
Mà nay thân thiết như hình anh em
Mỹ xưa giết hại dân đen
Mà nay tay bắt, mặt hiền như hoa
Nhật - Hàn - Úc cũng thế mà
Ngày xưa đấu súng nay ta đón chào
Bạn bè ở khắp Năm Châu
Đều hân hoan với bạn bầu Việt Nam .
Vì sao cạnh xóm, cạnh làng
Mà toàn gây chuyện trái ngang cho người
Lại còn muốn chiếm biển, trời
Ai qua xin phép ?... ôi thôi lạ kỳ ?
Xóm giềng chung cả lối đi (6)
Mà sao xí chỗ làm chi - bực mình ?
Anh em là phải phân minh
Đừng nên dựng chuyện linh tinh hại người...
Chân thành cần lắm ai ơi
Nghĩa tình hơn hẳn ngàn lời nói suông...!
(!) 10 h 30 ngày 25/8/1978, sau khi gây ra sự kiện "NẠN KIỀU" do TQ đóng cửa khẩu Lạng Sơn không cho Người Hoa về nước làm hàng ngàn người kẹt lại, gây rối loạn vùng biên. Một số Người Hoa và côn đồ người TQ tràn qua cột mốc đã dùng gậy gỗ và dao quắm bổ vào đầu, vào người chiến sĩ trẻ Lê Đình Chinh làm anh hy sinh tại chỗ , trong khi đó anh chỉ có tay không vận động họ giữ trật tự. Anh là chiến sĩ đầu tiên hy sinh ở chiến trường biên giới phía Bắc mà cuộc chiến tranh này do TQ gây ra .
(2) 1976 TQ xúi bẩy và hậu thuẫn cho Pôl Pốt (Khmer đỏ) đánh VN ở toàn tuyến biên giới Tây Nam gây nhiều tai họa cho nhân dân ta. Chúng còn định tiến đánh Sài Gòn của chúng ta .
(3) Ngày 17/2/1979 TQ tràn sang đánh VN đồng loạt ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc, công khai phát động cuộc chiến tranh biên giới với VN .
(4) 1974 TQ đánh chiếm đảo Hoàng Sa của VN do Ngụy quyền Sài Gòn chốt giữ.
(5) 14/3/1988 TQ đánh đảo chìm Gạc Ma của VN làm 64 chiến sĩ ta hy sinh.
(6) Không phận quốc tế .

Chuyện cũ ôn lại

Chuyện ngắn mà súc tích. Thắt nút được cởi mở bất ngờ. Người vợ nghe câu nói của người chồng "say rượu" thật hả lòng hả dạ...Thế mới biết con người ta nhiều khi tin vào những điều hư ảo hơn là lời nói thật...
Paktor
3 Tháng 3 2014
Một câu chuyện hay, không đọc hơi phí :))
Tối đó, người chồng uống rượu say và trở về nhà, nôn mửa, đập vỡ đồ đạc và quát tháo om sòm..
Người vợ đỡ anh ta vào trong phòng, rồi quay ra dọn dẹp mọi thứ...
Sáng hôm sau, anh ta thức dậy, nhớ lại mọi chuyện và chuẩn bị sẵn sàng tinh thần cho cơn giận giữ của người vợ. Anh hi vọng sẽ không đến nỗi... đánh nhau T.T
Bỗng nhiên, anh nhìn thấy một tờ giấy nhắn đặt trên bàn cạnh giường "Anh yêu à, bữa sáng yêu thích của anh đã sẵn sàng trên bàn rồi nhé!
Em phải ra ngoài sớm để mua một ít đồ. Em sẽ về sớm với anh, chồng yêu à~ Em yêu anh "
Người chồng quá đỗi kinh ngạc, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Anh gọi đứa con trai vào và hỏi. Cậu bé nói...
Tối qua, lúc mẹ đưa bố lên giường, mẹ cố gắng cởi giày và áo sơ mi của bố ra, bố say bí tỉ rồi, nhưng bố nói:
"Này cô kia! Đừng đụng vào tôi! TÔI CÓ VỢ rồi!"
Làm quen với những người độc thân xung quanh bằng Paktor nhé. Tải ngay >>http://taps.io/0u6w

Trò chuyện với nhà thơ Trần Đăng Khoa



          Nguyễn Quang Huệ

       Tôi có việc tới Tạp chí Thơ (Hội nhà văn VN) nhận tạp chí số mới, nhân thể ghé vào thăm nhà thơ Trần Đăng Khoa, tặng anh tập tuyển thơ thiếu nhi BẮC CẦU VỒNG vừa mới xuát bản. Nhắc đến nhà thơ ai cũng biết anh là thần đồng cách đây 50 năm. Lúc anh mới 8 đến 10 tuổi. Thơ Trần Đăng Khoa ghi dấu ấn bao thế hệ bạn đọc: Hạt gạo làng ta, Vàng ơi, Mẹ ốm… Rất nhiều, rất nhiều bài thơ hay, nhiều người thuộc. Tập thơ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI của anh đã tái bản hàng trăm lần. Thơ anh đã đi vào sách giáo khoa các lớp tiểu học, trung học của các em thiếu nhi. Bao bản nhạc hay lay động lòng người cũng đã lấy thơ anh làm lời cho các ca khúc đó. Thơ anh còn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài v.v… Kể sao cho hết những thành công về thơ của anh, Nhà thơ Trần Đăng Khoa. Lịch sử văn học VN chắc chắn không quên những sáng tác của anh đã đóng góp cho nền văn học nước nhà. Anh là người rất khiêm tốn, có chút hài hước, thường không thích nghe những lời ca ngợi về mình. Trong bài thơ “Gửi bác Trần Nhuận Minh” (Anh trai TĐK) viết năm 1998, bài thơ có 9 khổ, tôi thích nhất hai khổ thơ thứ 3 và thứ 4:… Bác âm thầm chìm nổi / Cùng kiếp người lang thang / Em lông nhông bầu bạn / Với kiến đen chó vàng / Biết bao nhiêu giun dế / Đã khiêng vác em lên / Tên tuổi em xủng xoảng / Những mõ ran trống rền…Những câu thơ ngộ nghĩnh nhưng rất lạ và rất thơ, đọc lên ai cũng vui cười và khâm phục….
       Nghe tiếng gõ cửa anh gọi to: xin mời vào. Anh đứng dậy bắt tay, pha chè mời tôi uống nước thân tình như gặp lại người bạn cũ ở xa về. Trên bàn làm việc bề bộn những sách là sách. Bàn tiếp khách đặt ngay cạnh cửa ra vào, diện tích phòng làm việc của anh chưa đến 20 mét vuông. Bên cạnh là phòng làm việc của Chủ tịch Hội Nguyễn Hữu Thỉnh.
       Phút niềm nở ban đầu làm tôi tự nhiên hơn. Nói đến Trần Đăng Khoa thì ai cũng biết vì anh là người của công chúng. Nhưng anh chưa biết tôi vì lần này là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Anh chủ động bắt chuyện luôn:
- Chắc bác có việc?
- Có , nhưng việc không quan trọng. Tôi biết anh đã chuyển sang Hội Nhà Văn và được bầu làm Phó Chủ tịch Hội. Tôi ghé thăm anh và chúc mừng anh nhận nhiệm vụ mới. Anh nói luôn: tôi sang Hội đã hơn một năm nay, trước đây ở bên đài TNVN…
       Qua mấy lời chào hỏi xã giao, tôi trao tặng anh tập thơ. Đón nhận một cách trân trọng, ngắm nhìn một cách kỹ lưỡng anh nói: thơ thiếu nhi à? Anh nhận xét: Tập thơ dày dặn, đến gần 300 trang, bìa đẹp, trang nhã lại là bìa cứng nên sách đẹp lắm. Nhà xuất bản Hội Nhà văn đây mà. Rồi anh trao đổi: Làm thơ cho thiếu nhi là đề tài khó, nhất là lớp người cao tuổi như các bác. Trước đây tôi chỉ sáng tác cho tôi lúc tôi trên dưới mười tuổi, chả viết cho ai. Quan sát thế nào viết thế ấy. Sau này lớn lên vào quân đội lại viết cho người lớn. Có lần Nhà xuất bản Kim Đồng đặt hàng viết truyện thiếu nhi, tôi viết cuốn ĐẢO CHÌM. Khi đọc lại hóa ra không phải cho thiếu nhi mà cho người lớn. Vậy là tôi chuyển sang cho Nhà xuất bản Thanh Niên. Đến nay cuốn sách này đã tái bản 37 lần.
       Trở lại tập thơ tôi tặng anh nói tiếp: Vậy là bác đã xuất bản tới chín tập rồi à? Mấy trăm bài chứ ít gì? Bác có viết truyện cho thiếu nhi không?
- Tôi chỉ làm thơ, đủ thể loại, còn truyện thì có viết nhưng ít lắm. Với lại chỉ viết vài truyện vui ngắn cho người lớn là chính, Tôi trả lời.
       Lật đi lật lại tập thơ anh góp ý:
- Ảnh tác giả nên để cả trang vì bìa cứng in thế này trông nó chắp vá. Các thông tin khác in ở bìa cuối, như vậy người đọc dễ nhận thông tin hơn. Những hình ảnh minh họa nên chọn lọc kỹ càng và ít thôi, thơ là chính…
       Tôi nói với anh giá như tôi gặp anh sớm hơn chắc chắn sẽ bớt được những khiếm khuyết như trên. Nhưng bây giờ thì muộn rồi. Thôi để các tập sau này nếu có in tôi sẽ làm theo những ý kiến gợi ý của anh. Anh đề nghị tôi ghi lại số điện thoại và hứa sẽ đọc tập thơ tôi tặng, có điều gì cần trao đổi anh sẽ gọi điện cho tôi sau.
       Sau cuộc gặp gỡ nhà thơ Trần Đăng Khoa, anh đã làm tôi ngạc nhiên về sự chân tình và thẳng thắn, cởi mở và đầy tình bạn bè trong công việc sáng tạo của những người đã cầm bút lâu năm…


                        Hà Nội tháng 9 năm 2016


Thơ Lê Cảnh Nhạc

Thưa bạn đọc .
Cách đây gần 4 năm Nhà thơ Lê Cảnh Nhạc đã có tác phẩm rất kịp  thời về dàn khoan 981. Hôm nay Fb nhắc lại cảm tưởng của tôi về bài thơ này. Tôi xin phép tác giả cho đăng lại lên trang cá nhân để bạn bè tôi cùng chia sẻ.

HÀNG XÓM

Phản trắc như Nguỵ Diên
Gian hùng như Tào Tháo
Tàn bạo như Tần Thuỷ Hoàng
Đen trắng mèo hoang...
Những gương mặt
Mang tên "Phương Bắc"
Hàng xóm tối lửa tắt đèn
Núp bóng đêm hôi của
Nhập nhoạng hoàng hôn
Lén nhổ cây dịch chuyển hàng rào
Đòn xóc nhân danh
"Đồng chí cùng chiến hào"
Rút giáo sau lưng
Mặc cả giao thương bằng máu bạn
Đâm bị thóc chọc bị gạo
Xua thú hoang sang cắn láng giềng
Lấy thịt đè người
Đốt nhà bạn huyênh hoang "cho bài học"
Thản nhiên nhảy vào vườn nhà khác
Quây rào dựng trại đào bới sắn khoai
Thè lưỡi bò chực liếm hết đất đai
Đổi trắng thay đen
Gây rối ren gửi chân sói dữ
Đục trong qua sông mới tỏ
Miệng quân tử lòng dạ tiểu nhân
Xương trắng Đống Đa, Hàm Tử, Bạch Đằng
Chất ngất lòng tham phơi bày ô nhục
Cả nhà ta không phút giây chợp mắt
Đuổi cướp xong lại canh trộm rào vườn
Tay trồng hoa, tay chuốt giáo mài gươm
Ưỡn ngực đón phong ba chưa bao giờ biết sợ
Lê Cảnh Nhạc
(11/5/2014

Hoa đại trắng

( Kỷ niệm ngày thăm đền An Dương Vương ngày 1/ 5 / 2017 )


Kết quả hình ảnh cho Đền thờ An Dương Vương
Kết quả hình ảnh cho Đền thờ An Dương VươngTôi đứng giữa hàng cây
Hoa đại trắng nở đầy trong kẽ lá
Nắng xôn xao một sáng hè đầu hạ
Từng sợi tròn trên thềm đá rung rinh.

An Dương Vương trú ngụ ở quê mình
Mấy ngàn năm vẫn nguyên màu cổ tích
Mộ Dạ xưa giữ trọn tình ly biệt
Thương Mỵ Châu hóa chim lớn tìm về.

Một sáng xuân ngày ấy nhớ con đi
Thân liễu yếu phải lìa cha đơn độc
Nhớ thương con lòng nghẹn ngào bật khóc
Cha quay về Mộ Dạ để tìm con...

Nước non thiêng nay sông núi vẫn còn
Giữ bình yên cho Người tròn giấc ngủ
Đây sông núi một màu xanh quyến rũ
Trọn ngàn đời ôm ấp chỗ Người đi...

* Ngày hội đền Cuông 15-2 ÂL 1995 một con chim hạc lớn sa xuống khu đền. Dân chúng cho rằng Công chúa Mỵ Châu về tìm cha. Mùa lễ hội năm sau một cá voi lớn vào vùng biển khu vực đền, người dân cho rằng Vua cha về tìm con. Chim hạc được lột xác bày trong tủ kính của đền. Cá voi chết dân chúng chôn cất lập bia mộ thờ cúng. Đây là câu chuyện vừa huyền thoại vừa có thực tại đền thờ An Dương Vương ở Diễn Châu, Nghệ An.

Vợ vắng nhà

( Thơ vui ). Tặng KTS Vũ Đình Phàm

Mấy hôm nay vợ vắng nhà
Cháu con về ngoại thành ra một mình
Buồn vì đồ đạc linh tinh
Đi về một bóng một hình cô đơn
Sớm chiều bạn với mỳ tôm
Bánh đa Chũ – cộng hành thơm qua ngày...

Hôm nay mời bạn đến đây
Trước là gặp mặt sau say rượu nồng
Một can ba lít nếp đồng
Chén anh chén chú thỏa lòng mới thôi…

Bánh chưng xanh vợ làm rồi
Thêm con gà đồi mới thịt sáng nay
Cua đồng năm lạng chợ xay
Phú Đô bún trắng quê này nổi danh
Rau thơm rau sống răm hành
Giò heo mấy lạng đã thành tiệc to
Muối chanh gà chặt mình lo
Bún cua một bát trao cho mỗi người…

Bảy ông đũa gắp miệng cười
Hả hê nâng chén rượu mời lên môi
Có gà ắt phải có xôi
Rượu vào nhất định nói lời thẳng ngay
Mấy ông hăng hái tỏ bày:
- Đời tôi dăm bận qua tay đàn bà
Cụ ngồi đối diện thốt ra
- Riêng tôi không biết đã qua bao người!?
Ông ngồi cạnh tủm tỉm cười
- Đời tôi chỉ “một” vợ tôi riêng mình…
Chuyện như pháo nổ sân đình
Quên luôn bún nguội tanh tanh cua đồng!
- Nấu quên gia vị hở ông
Mắm tôm bỗng rượu sao không cho vào?
Thịt cua ông lọc thế nào?
Chắc dùng rá nhỏ chao chao mấy lần!
Lòng còn tự hỏi nguyên nhân:
- Đúng rồi - Bát bún thiếu chân đàn bà!...

Nhưng thôi chuyện ấy bỏ qua
Bún không ngon nhưng vẫn là đáng yêu
Cám ơn ông bạn thật nhiều
Chung trường chung Viện, chung đều trai quê…


Vĩnh biệt Nhà thơ Việt Phương

Bài viết của Nguyễn Quang Thiều

Vĩnh biệt nhà thơ Việt Phương
HIỆP SỸ CỦA NGÔN TỪ VÀ NHÂN CÁCH
( bài in trên Vietnamnet năm 2010 )
Hành trình thơ Việt Phương từ phút khởi đầu cho đến bây giờ là hành trình đi tìm tính nhân bản của mặt người và của giọng nói người. Và ông đã từng phải kêu lên trong không ít những câu thơ tiếng kêu tuyệt vọng về chính con người.
Chính trong những câu thơ chứa nhiều bóng tối và đau đớn ấy lại hiện lên thấp thoáng nhưng lộng lẫy hình ảnh con người như ông và chúng ta mơ tới và đấu tranh không mệt mỏi cho giấc mơ ấy.
Chỉ cách đây mấy năm tôi mới được gặp ông. Và cũng chỉ cách đây khoảng mười tám năm tôi mới được đọc đầy đủ những câu thơ trong tập Cửa mở của ông – những câu thơ mà tôi đã được không ít các nhà thơ quen biết nói cho nghe trong những năm tháng trước. Tôi nhận ra một điều chung từ các nhà thơ nói về thơ Việt Phương: sự kính trọng đối với nhân cách thơ Việt Phương bên cạnh sự khai mở của thi pháp và tư tưởng trong đời sống thơ ca ở một nửa đất nước lúc bấy giờ.
Và tôi chỉ gặp ông khi tôi chuyển về công tác tại báo Vietnamnet. Ông là cố vấn tinh thần đặc biệt của tờ báo này. Đó không phải cuộc gặp gỡ giữa cá nhân ông và tôi mà tôi chỉ là người được tham dự một cuộc họp có ông. Ông bước đến với một chiếc quần bò màu xanh và một chiếc áo phông cho dù lúc đó ông đã tám mươi tuổi. Tôi nhớ là như thế. Và ông cất giọng nói: trẻ trung, tinh tế, uyên thâm nhưng cũng đầy vẻ phong trần.
Lần đầu tiên gặp nhà thơ Việt Phương là lúc tôi đã gần 50 tuổi, cái tuổi mà có lẽ người ta chỉ còn sợ Trời và sợ Người ngay chứ không sợ gì nữa. Nhưng cho dù đã ở tuổi đó, tôi vẫn nhìn ông với con mắt của một chàng trai 24 tuổi đầy tò mò và kính trọng. Vì khi 24 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe nói về thơ ông.
Lý lịch chính xác nhất và đáng tin cậy nhất của một thi sỹ là những bài thơ. Tôi đã luôn luôn nghĩ vậy. Và Cửa mở là bộ lý lịch cơ bản nhất của tâm hồn và nhân cách Việt Phương. Bởi khi hiểu những câu thơ ông viết và hiểu được hiện thực lịch sử trong thời đại khi ông viết những câu thơ đó, chúng ta mới hiểu được con người ông đầy đủ và chính xác.
Những tập thơ sau này của ông là những phần bổ sung tiếp tục cho bộ lý lịch ấy. Có nhiều câu thơ trong Cửa mở của Việt Phương mà tôi của hơn 20 năm trước hoặc không hiểu được hoặc không hiểu hết. Nhưng giờ thì tôi hiểu cho dù không thể nói là hiểu hoàn toàn. Bởi sự thật của đời sống này và những trải nghiệm cá nhân mới giúp tôi hiểu chúng. Khi hiểu hơn những câu thơ của ông trongCửa mở, tôi càng khâm phục và kính trọng ông hơn.
Khi chúng ta hiểu được cái thời đại mà ông ngồi viết những câu thơ trong Cửa mở thì ta mới thấy sự công phá lớn đến mức nào của những câu thơ đó. Sức công phá ấy làm nên bởi khối “thuốc nổ” của trí tuệ, của sự sáng tạo tận cùng, của tình yêu con người, của lòng quả cảm của một thi sỹ đấu tranh cho lẽ phải và cái đẹp.
Nếu chúng ta lùi về quá khứ một chút thôi, chúng ta sẽ thấy ngôn từ trong Cửa mở rung vang như kèn đồng, trống trận và cũng tinh tế như sự mở cánh của những bông hoa đầu xuân.
Lùi thêm một chút nữa về quá khứ, chúng ta sẽ thấy ông hiện lên như một hiệp sỹ chiến đấu với thanh gươm của ngôn từ tự do và nhân cách.
Và lại lùi thêm một chút nữa về quá khứ, chúng ta thấy ông hiện ra với không ít thương tích trong trận chiến ấy.
Ngay trong một thời đại dễ dàng hơn ngàn lần như bây giờ mà nhiều nhà thơ, trong đó có tôi đã có lúc không dám nhấc thanh gươm ấy lên. Những nhà thơ như vậy từng bị chìm ngập trong một cảm giác đớn hèn và xấu hổ. Nếu chúng ta ở trong thời đại mà ông đã viết những câu thơ đó, chúng ta mới hiểu ông đã dám sống như thế nào.
Ngay chính trong thời đại ấy, bây giờ nhìn lại, hỏi có bao nhà thơ đã đủ đức tin và lòng quả cảm để viết ra những câu thơ mang tinh thần của một hiệp sỹ đấu tranh cho sự thật và cái đẹp?
Đã có lúc tôi được nghe, được biết về con người xã hội Việt Phương. Và tôi nhận ra rằng: có rất ít những nhà thơ, trí thức có được những điều kiện thuận lợi như ông để đi vào một con đường khác mà bao người thèm muốn. Lúc đó, ông đang đứng ở một vị trí mà bao người ngước nhìn. Nhưng thời đại đó đã chọn ông là một trong rất ít nhà thơ để làm người phát ngôn cho lẽ phải và sự thật về thời đại đó bằng ngôn ngữ thơ ca. Bởi có không ít nhà thơ cùng thời với ông đã chọn một con đường khác. Họ bị “con đường khác” ấy mê dụ và cuốn đi.
Họ đã lầm tưởng họ đang đi trên con đường của thi ca. Nhưng không, họ chỉ đi trên một con đường hoàn toàn khác và thi thoảng dùng một bộ cánh có tên gọi thi ca để xuất hiện đây đó mà thôi. Và cho đến bây giờ nhìn lại, trên “con đường khác” ấy, thơ ca đối với họ chỉ là những chiếc áo khoác bóng bẩy hợp thời nhưng lại luôn luôn lỗi thời với sứ mệnh tranh đấu cho cái đẹp và lẽ phải của một nhà thơ.
Và ngay lúc này, Việt Phương vẫn là kẻ lỗi thời giữa một đám đông những nhà thơ cả trẻ lẫn già đang rất thời thượng và quá nhiều huyên náo. Nhưng Việt Phương vẫn còn đây, như chẳng có gì thay đổi được ông – một Việt Phương của những vần thơ quả cảm và nhân cách mấy chục năm trước. Ông vẫn còn đây, với giọng nói trung thực, đau đớn và đầy khát vọng về một cuộc sống với những giá trị đích thực của đời sống. Và những câu thơ trung thực, đau đớn và đầy khát vọng của ông ngay trong chính thời đại mà tôi đang viết những dòng chữ này đã đi qua mọi phù phiếm của lối sống và mọi thuật xảo ngôn trong những thứ được gọi là thơ ca.
Cách đây mấy tuần, ông có gửi cho tôi một tập bản thảo mới. Ông muốn tôi góp ý cho những bài thơ của ông. Tôi thực sự thấy hân hạnh được ông hỏi ý kiến cho dù đến giờ tôi vẫn chưa nói với ông một điều gì về tập bản thảo đó. Nhưng tôi sẽ không nói gì và tôi đã im lặng. Tôi đã im lặng để đọc những câu thơ của ông trong bản thảo này như im lặng lắng nghe nhà thơ Nguyễn Tấn Việt nói về thơ ông mấy chục năm trước và như im lặng trong lần đầu tiên tôi chính thức đọc trọn vẹn Cửa mở bằng một văn bản photocopy.
Tâm hồn và nhân cách thơ ông không hề thay đổi. Những câu thơ trong những bài thơ của tập bản thảo mới nhất này của ông vẫn vang lên đau đớn về số phận con người và cảnh báo về một con đường đang dẫn con người về đầm lầy của tội lỗi và suy tàn khi chúng ta đang say sưa trên cỗ xe dục vọng tội lỗi của mình mà không hề hay biết.
Cũng phải thú nhận rằng, có lúc tôi cảm thấy kinh hãi cái thế giới người được dựng lên trong thơ ông. Nhưng đó là sự thật.
Và có lẽ sự thật ấy là một trong những lý do làm cho sứ mệnh của một nhà thơ như ông, một sứ mệnh mà chẳng cần một ai giao phó, một sứ mệnh mà người được giao phó cũng chẳng bao giờ lên tiếng rao giảng, đã làm ông không được phép im tiếng về nó.
Sứ mệnh ấy là ý thức sống tự thân nhưng mãnh liệt và nghiêm khắc tận cùng của nhà thơ. Nó làm cho ông không cho phép tự ban cho mình quyền được ẩn náu, nghỉ ngơi hay hưởng thụ trong khu vườn của ngôn từ và những hình ảnh thi ca mỹ miều.
Hành trình thơ của ông từ phút khởi đầu cho đến bây giờ là hành trình đi tìm tính nhân bản của mặt Người và của giọng nói Người. Và ông đã từng kêu lên trong không ít những câu thơ tiếng kêu tuyệt vọng về con người. Nhưng chính trong những câu thơ chứa nhiều bóng tối và đau đớn ấy lại hiện lên thấp thoáng nhưng lộng lẫy hình ảnh con người như ông và chúng ta mơ tới và đấu tranh không mệt mỏi cho giấc mơ ấy. Những gương mặt người kia thấp thoáng như một ngôi sao xa trong đêm tối cho những kẻ đi tìm cái đẹp của đời sống và sự toàn hảo của thế gian. Thật ít ỏi nhưng là một đức tin.
Trong danh sách những người trở thành hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009 có tên ông. Người nói ông quá xứng đáng mà sao giờ mới được kết nạp, người nói ông đã từng ấy tuổi và đã vang danh như thế còn vào làm gì nữa. Cả hai cách nói này đều đã không hiểu ông.
Trụ sở Hội nhà văn không phải là thánh địa văn chương cũng như không phải ngôi đền nào thánh thần cũng đến trú ngụ. Sự linh thiêng và quyền uy tối thượng của Thượng Đế không phụ thuộc vào ngôi đền lớn hay nhỏ, mới hay cũ.
Lúc này, tôi nhớ đến một bài thơ của cố thi sỹ Thế Mạc, người Sơn Tây, Hà Nội. Bài thơ đó ông viết về một ngôi đền đã bị tàn phá nhưng sự linh thiêng trú ngụ trong ngôi đền đó vẫn trùm phủ tâm hồn và đức tin con người.
Và đối với Việt Phương, sự linh thiêng của nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng mãi mãi trùm phủ tâm hồn ông. Ông thấu hiểu điều đó và ông đã hiến dâng cho điều đó trong im lặng suốt thời gian kể từ khi ông đến với nghệ thuật đến giờ. Nếu ông cũng dày vò với cái danh kia thì hoặc ông đã vào Hội nhà văn mấy chục năm trước hoặc ông sẽ không bao giờ vào nữa.
Mấy chục năm qua ông không vào Hội Nhà văn mà chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ suy ngẫm và lặng lẽ viết làm tôi thực sự kính trọng ông. Và bây giờ, tôi càng kính trọng ông hơn khi ông vào Hội. Tôi nghĩ, chúng ta có thể hiểu được điều này.
( ảnh dưới: Nhà thơ Việt Phương. Nguồn internet )
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

lăng mộ đá toyota thanh hóa