Thơ Hoàng Cẩm Nga



chúng ta khoảng cách quá xa vời
Cố gắng gượng chỉ thêm rơi dòng lệ
Em đã thấy có những điều không thể
Nên nhủ lòng mạnh mẽ để rời đi
Chẳng hợp hòa thì mình cứ chia ly
Cứ đối diện đừng nghĩ suy gì cả
Ở bên nhau mà cõi lòng băng giá
Thì yêu thương nên trả lại cho đời!
Đừng gắng lòng đừng giả bộ vui tươi
Khi trái tim không trao người trọn vẹn
Khi hai ta không còn chung điểm đến
Yêu thương nào trọn vẹn được đâu anh
Cuộc đời này thực sự rất mong manh
Nếu chẳng đủ chân thành thì dừng lại
Để tổn thương đừng kéo dài ra mãi
Lối đi nào chẳng vướng phải hận đau...
Thực lòng mình em đã nghĩ rất lâu
Đã im lặng để tìm câu giải đáp
Cuộc sống kia còn bao điều phức tạp
Sẽ thế nào khi tắt hết niềm tin?

Cây lúa và văn hóa cúi chào của người Nhật

Câu chuyện thứ 5:

CÂY LÚA VÀ VĂN HÓA CÚI CHÀO CỦA NGƯỜI NHẬT

Diễn Đàn Văn hóa Nghệ thuật Đường sắt và Xây Dựng Việt Nam tuy mới thành lập được gần một năm, nhưng đã ra mắt được ấn phẩm “ Tiếng còi tàu ”. Hội viên Diễn Đàn gồm những người có năng khiếu sáng tác về văn thơ, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, nhiếp ảnh và sân khấu. Ấn phẩm dày 168 trang, khổ 19 x 27 có đầy đủ các ngành nghệ thuật tham gia. Bài viết có nội dung cổ vũ, động viên cán bộ, nhân viên một ngành vận tải đặc chủng của bộ Giao thông Vận tải, đó là Đường sắt VN.
Ngày ra mắt ấn phẩm được tổ chức hoành tráng và rất công phu tại một hội trường sang trọng. Âm li, loa đài đầy đủ. Các tiết mục văn nghệ được tập dượt thành thục dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ có tay nghề, có dàn âm thanh hòa tấu cùng các ca khúc đó. Riêng các loại hoa, nhiều như một đám cưới quý tộc. Các chị mua hoa tươi tận chợ đầu mối Nghi Tàm về tự cắt tỉa và cắm từ 14 h đến 20 h mới xong. Hoa bày từ ngoài hành lang đến sân khấu hội trường, đủ các loại: bó to, nhỏ, cao, thấp. Tính sơ bộ mất hai triệu tám trăm ngàn đồng. Ăn chơi không sợ tốn kém, dĩ nhiên rồi, nhưng tiền hoa và công sức các chị bỏ ra hơi lãng phí, nên cần rút kinh nghiệm cho lần sau.
Lễ ra mắt ấn phẩm “ Tiếng còi tàu ” diễn ra trang trọng và thành công ngoài mong đợi. Có ba tham luận được đọc trước hội nghị, trong đó có hai tham luận là của người nhà, ca ngợi cái hay cái đẹp của ấn phẩm. Riêng tham luận của khách, một nữ giáo sư tiến sĩ văn học, ngoài ca ngợi cái đẹp của những bài được đăng, còn góp ý thêm những điều chưa thành công như ấn phẩm quá dày, một vài bài chất lượng thơ kém. Một số bài văn quá dài dòng đến 36 trang và nội dung cũng chưa thiết thực. Nên thêm những mẩu chuyện vui cười, như vậy mới hấp dẫn người đọc.
Sau đó mấy hôm, ban chấp hành Diễn Đàn mời họp rút kinh nghiệm, nêu ra những góp ý của nữ giáo sư. Một vài người tỏ ra không hài lòng với cách góp ý như thế và thề lần sau không nhờ nữa. Nhưng có mấy người lại cho rằng đó là những ý kiến góp ý chân thành để lần sau hoàn chỉnh hơn. Không nên để người khác có ý nghĩ văn mình, vợ người, bảo thủ, mẹ hát con khen hay…
Anh Đặng Tiến Dũng, một nhà báo, cựu phó tổng biên tập tờ báo ngành trước đây ngồi nghe từ đầu không phát biểu gì, chỉ xin kể câu chuyện: CÂY LÚA VÀ VĂN HÓA CÚI CHÀO CỦA NGƯỜI NHẬT. 
Anh kể: Ở nước Nhật người ta lấy hình tượng cây lúa để xây dựng nền văn hóa chào hỏi của họ. Cây lúa tốt nhiều hạt, hạt mẩy, phẩm chất tốt thì tự nó cúi xuống, còn những cây lúa hạt lép phẩm chất kém, cứ đứng thẳng trơ trơ, mà loại này ít hơn loại bông nặng hạt. Loại đứng thẳng có rất ít trong một thửa ruộng. Con người ta cũng vậy, khiêm tốn, tôn trọng người khác, đó là người tốt. Do đó người Nhật khi bắt tay chào hỏi một ai đều cúi đầu rất trân trọng. Một vài lãnh đạo các nước trong đó có lãnh đạo nước ta sang thăm Nhật khi bắt tay chào Nhà Vua nước sở tại cứ đứng ngay lưng, trong khi Nhà Vua tuy thấp hơn vẫn cúi chào một cách mến khách. Có việc như vậy vì lãnh đạo đó không hiểu phong tục người Nhật mà thành thất lễ. Nhà báo chỉ kể đến đó và dừng lại. Mỗi người tự suy nghĩ cho riêng mình.
….
….
Cuối cùng cố vấn và lãnh đạo Diễn Đàn quyết định: số tới sẽ ít trang hơn, mỗi tác giả chỉ được đăng một đến hai trang, chọn lọc bài kỹ hơn, không đăng những bài quá dài mà nội dung không thiết thực cho đối tượng mình phục vụ. Đi vào thực tế cuộc sống và công tác của cán bộ, nhân viên để bài viết có nội dung sống động. Đồng thời sưu tầm thêm một số mẩu chuyện vui, hài hước hấp dẫn độc giả hơn. Mở những chuyên đề mới lạ sẽ thu hút được nhiều bạn đọc hơn.

Cả hội nghị phấn khởi đón nhận những quyết định đúng của lãnh đạo Diễn Đàn, bắt đầu biên tập những bài đầu tiên của  tập san “Văn hóa Việt” theo gợi ý của nữ Giáo sư Tiến sĩ chuyên ngành sáng tác và thẩm bình văn chương đang giảng dạy ở Học viện Báo chí và tuyên truyền của nhà nước…

Thơ Nguyễn Hà

Sao anh chẳng gọi em?
khi chiều buông tim tím
sao anh chẳng gọi em
gió lạnh về bịn rịn!

Trời ngoài kia đang lạnh
ngọn gió nào của anh?
cho bóng chiều nghiêng nghiêng
buồn riêng em phố nhỏ!

Chỉ có lời của gió
đung đưa bóng me già
em cùng phố nhạt nhòa
không lời anh gửi gọi...!

Phận con cháu xuống mâm dưới

Câu chuyện thứ 4:

PHẬN CON CHÁU XUỐNG MÂM DƯỚI.

Cả bản hôm nay nhộn nhịp hẳn lên. Gần chục người tấp nập chuẩn bị thịt lợn, mổ gà, đồ xôi và làm các loại bánh để cúng giỗ ông Vừ A Pao, là bố của bí thư huyện ủy Vừ A Thênh. Lại có thêm cả Chủ Tịch huyện Vũ Ban, là bạn học với ông ấy cùng về.
Vui lắm lớ. Mấy khi Chủ Tịch huyện cùng về bản thế này đâu. Ông trưởng tộc tỏ ý vui mừng vì cháu ông và Chủ Tịch cùng về đám giỗ.
Từ bản lên huyện xa mấy chục cây số, công việc lại nhiều, địa bàn rộng, nên Bí Thư ít về thăm nhà, thăm bản. Gia đình vợ con đều làm việc ở trên huyện. Hôm nay nhân kỳ giỗ bố, ông qua nhà thắp hương cho cụ.
Vừa vào nhà chào hỏi bà con họ mạc, chia vui với những người cao tuổi là anh em chú bác bằng những phong bánh dẻo, bánh nướng, lại quay sang phát kẹo, bim bim cho các cháu nội ngoại. Ai cũng tự hào dòng họ nhà mình có người học giỏi tận dưới Hà Nội về công tác tại huyện nhà, cứ lên chức vù vù. Mấy năm trước mới là Phó Chủ Tịch, rồi lên Chủ Tịch, nay là Bí thư Huyện Ủy. Sau khi phát quà cho mọi người, uống bát nước chè Suối Giàng, đặc sản quê hương, ông Bí Thư và Chủ Tịch tranh thủ đi thăm các gia đình trong bản. Thăm ruộng bậc thang, thăm đồng lúa chín. Lúa nương năm nay bội thu đấy anh Ban à. Bí thư nói với Chủ Tịch "Có lẽ thời tiết thuận lợi nên năng suất có khi cao nhất từ trước đến nay. Nói gì thì nói, ông trời không ủng hộ mưa gió thuận hòa, làm sao có năng suất sáu tấn trên H A được". Vũ Ban cũng đồng tình với nhận định trên của Bí Thư: "Đúng là trời đất quyết định hết. Nhưng nếu huyện không chỉ đạo các xã đẩy mạnh công tác thủy lợi ngay từ đầu vụ, đắp bờ giữ nước, chống khô nứt chân ruộng khi lúa đẻ nhánh và chuẩn bị làm đòng  thì làm gì có năng suất được". Bên cạnh khâu chọn giống, làm sục bùn ruộng bậc thang, bón phân kịp thời vụ của huyện cũng góp phần vào vụ mùa thắng lợi. Chiều nay về huyện tôi và anh lại đôn đốc các xã tháo nước sớm để ruộng khô chân, chuẩn bị thu hoạch và cày ruộng đổ ải chuẩn bị cho vụ sau.
Trên đường đi từ huyện về, hai người tha hồ ngắn cảnh những đồi lúa vàng ươm một màu no ấm mướt mắt. Bông nào bông ấy nặng hạt cúi gập đầu xuống đất. Sự chỉ đạo của huyện sâu sát, thăm đồng liên tục, xuống các xã đôn đốc từng việc đã có kết quả rõ nét, nhất là vụ mùa năm nay.
Về đến nhà thì cỗ đã xong. Hai mâm cỗ đặt trên hai bộ phản gỗ có bát đĩa đầy đủ. Bốn mâm dưới trải chiếu. Thức ăn có nước như xương hầm khoai sọ, canh măng đựng vào bát tô. Các loại giò chả, thịt luộc, thịt quay, xôi và các loại bánh… bày trên lá chuối hơ lửa lau sạch.
Ông trưởng tộc tuyên bố: Mâm nào mâm ấy cứ vai vế mà ngồi với nhau. Bí thư Thênh băn khoăn mời Vũ Ban lên mâm trên uống rượu với các cụ. Vừ A Thênh tìm ghế thấp ngồi mâm dưới với những người cùng vai vế. Vũ Ban cáo lỗi xin được ngồi cùng Bí thư và nói rằng : Xin các cụ cứ tự nhiên, coi cháu như con cháu trong nhà, ngồi cùng với nhau cho tiện.
Trưởng tộc cứ nài nỉ mời Vũ Ban lên ngồi mâm trên, Chủ Tịch là khách của gia đình. Còn thằng Thênh nó là bậc con cháu phải ngồi mâm dưới. Thủ tục ở đây là vậy.
Lời qua tiếng lại, Vũ Ban đành ngồi ghé phía ngoài phản gỗ, chạm bát rượu với các cụ, ăn vài miếng cho phải nhẽ rồi xin phép ngồi cùng Bí Thư Thênh để kết hợp bàn thêm công việc.
Thênh và Vũ Ban ngồi ăn cỗ một lúc đã gần hết thức ăn vì vai vế toàn trẻ con nên ăn rất nhanh, rất tự nhiên, chả bàn luận gì. Gần buổi người nào cũng đói nên ăn uống nhiệt tình, chẳng để tâm đến khách. Thấy vậy, Vũ Ban cũng đứng dậy cáo lỗi vì đã ăn sáng ở nhà. Vừ A Thênh biết nhưng cũng chẳng dám nói gì. Hai người ra bàn uống nước. Các mâm dưới ăn uống xong ra về, cũng chẳng chào khách một lời…
Sau khi ăn uống xong, chia sẻ với mọi người dăm ba câu chuyện, Bí Thư và Chủ Tịch chào mọi người ra về. Trên đường cùng xe với Chủ Tịch, Bí Thư phàn nàn: Quê tôi thế đấy ông Ban à. Thênh tâm sự với Vũ Ban: hủ tục còn nặng nề lắm. Biết bao giờ ánh sáng văn minh mới chiếu rọi về đây! Thôi cũng đành dần dần thôi ông à. Vũ Ban đồng cảm: Nơi khác còn nặng nề hơn nữa vì mỗi lần có giỗ, có tang là thịt trâu thịt bò, cả xã ăn mấy ngày liền…

Chẳng mấy chốc đã về tới huyện. Hai người như đũa có đôi, lại lao vào bàn công việc mới, bởi nếu huyện ủy và ủy ban lỏng đôn đốc, kiểm tra là công việc lại dồn ứ lên ngay…

Ngày sinh nhật

Câu chuyện thứ 3:

NGÀY SINH NHẬT

Hôm 26 tháng 12, là ngày sinh nhật tôi. Bạn bè gần xa, bà con thân thuộc đã gửi lời chúc mừng tốt đẹp. Những bạn đọc đã biết tên và nhiều bạn chưa biết tên cũng gửi tới tôi những lời thân thiết và chân thành. Tôi xin cám ơn tất cả.
Chuyện đó cũng chẳng có gì mới.
Nhưng cái khác của lần sinh nhật này ở chỗ có một sự kiện đặc biệt cũng diễn ra trong ngày hôm đó: Tôi trở thành Hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội. Dĩ nhiên tôi vui, bạn bè đến chúc mừng và tặng hoa, cùng nhau chụp những bức ảnh chung thật đẹp. Tôi vẫn coi đó là sự trùng hợp bình thường. Nhưng cháu tôi, một sinh viên đang học đại học ở Irelan ( Bắc Âu ) nói rằng: Sự kiện ấy xẩy ra trùng lặp không phải ngẫu nhiên đâu ông ạ. Đấy là sự sắp xếp của thần thánh, trời đất đã ủng hộ ông đấy ạ. Tóm lại là do Thiên định. Nhưng tôi nghĩ đó là quan niệm của phương Tây, còn Phương Đông đó là Thiên thời, Địa lợi và cả Nhân hòa nữa.

Và như vậy, triết lý của Phương Tây và Phương Đông có khác gì nhau?...

Xe ôm và những người khách

2 -  Câu chuyện thứ 2:  XE ÔM VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÁCH

Trên đường đi từ cổng chùa Trấn Quốc ( đường Thanh Niên ) đến Bảo tàng Văn học Việt Nam  (đường Lạc Long Quân ) là một quãng khá dài., Tôi phải đi xe ôm qua đường Yên Phụ men theo Hồ Tây. Ông xe ôm chừng gần bảy mươi tuổi. Trông ông phúc hậu thật thà, tôi bắt chuyện:
-          Bác năm nay bao nhiêu tuổi rồi? Tôi hỏi.
-          Dạ, em sáu tám ạ. Ông trả lời.
-          Sao bác không nghỉ ngơi, để con cháu đỡ đần cho bác?
-          Một số người đi xe em cũng có câu hỏi như ông.
Ông lái kể: Chả là trước đây em làm bên đường sắt, khi giảm biên chế họ cho em một cục, Về theo chế độ 176 của nhà nước, tưởng có vốn làm ăn nhưng hóa ra không có hậu ông ạ. Buôn bán không được, vốn hụt dần. Cơ duyên thương trường mình không có kinh nghiệm nên thất bại. Bây giờ các cháu lớn cả rồi. Gia thất tạm ổn, chưa được đầy đủ, nhưng chúng nó nhờ bên ngoại là chính nên các cháu nội ngoại đứa nào cũng xinh đẹp, giỏi dang cả. Cũng do các con tự lập cả thôi. Bố mẹ giúp đỡ chẳng được bao nhiêu.
-          Mừng cho bác có những đứa con biết tự lập sớm.
-          Cũng là do hoàn cảnh cả thôi.
     Tôi nói và hỏi luôn, thế trong khi đi phục vụ khách hàng có câu chuyện nào vui hay buồn không?
-          Vui có, buồn cũng có. Như khách đi xe nhiều người thương cảm hoàn cảnh của em họ cứ nài nỉ trả thêm tiền. Có người mười ngàn, cũng có người hai mươi, năm mươi, thậm chí cả trăm. Em nói chỉ lấy đúng giá nhưng họ không nghe, bảo rằng giúp bác mấy đồng có đáng là bao. Em nhận để người ta vui lòng ông ạ.
-          Hoàn cảnh như bác ai cũng muốn giúp đỡ. Chứ như người chở khách khác họ cứ tăng thu vô tội vạ, nhất là với người nước ngoài và người tỉnh xa về Hà Nội. Ông hưởng ứng luôn:
-          Quả cũng có người như thế.
Thế còn chuyện buồn? tôi hỏi? bác trả lời: Có một lần em đón xe ở dốc An Dương đường Thanh Niên, một cô gái nhờ em lai về tận trong Hà Đông. Cô ấy quãng hai bốn hay hai lăm gì đó. Trông người rất tươi trẻ, vóc dáng đài các lắm. Em nghĩ bắt được cuốc xe  này hên rồi vì đường xa nên tiền công cũng được thỏa thuận trước 150 ngàn đồng. Đi được hơn nửa đoạn đường thấy khoảng cách hai người cứ ngắn dần và ép vào nhau. Vòng một cô ấy cứ đụng vào lưng em. Hai tay cô ta ôm chặt ngang hông. Em thực sự cũng thấy buồn buồn và hồi hộp. Suy nghĩ mãi chả nhẽ con bé này nó định cưa mình. Một già một trẻ có thể nào xẩy ra được. Với lại mình là xe ôm thì hy vọng cái nỗi gì mà bám. Khi xe qua thị xã Hà Đông, cô gái bấm bấm vào tôi và nói anh cho em xuống đây. Đứng bên cạnh tôi, nhìn quanh một lượt không có ai cô ta nói:
-          Bây giờ em không có tiền, hay là anh và em cùng vào nhà nghỉ cạnh đây, anh muốn làm gì em thì làm. Nói rồi cô ấy mở túi ra đưa trước mặt, quả là không có tiền thật. Cô ta nói thêm: Đêm qua thằng chó nó quỵt tiền nên không có đồng nào cả. Anh giúp em nhé.
-          Đồ khốn nạn. Người khác quỵt tiền mày, mày lại quỵt tiền tao à? Mày có biết sáng sớm tao đi mở hàng bao nhiêu hy vọng ở mày không?
-          Anh ơi, nói nhỏ thôi. Anh thông cảm cho em, để xe ở ngoài khóa lại vào đây uống nước đã.
-          Ăn uống gì. Tao không có tiền. Cô không biết tôi cũng như cô à. Đồ giẻ rách, cút ngay. Con bé vừa sợ người ngoài túm tụm hóng chuyện, vừa lý nhí em cám ơn anh và đi thẳng. Tôi thẫn thờ một lúc rồi quay xe lại. Một mình lẩm bẩm với mình: Mẹ kiếp, sao hôm nay mình đen thế!
….
Em dịu giọng ông ạ. Nghĩ cho cùng chúng nó cũng cơ cực mới phải đi bán thân như vậy.
Thật là “Ngựa người- Người ngựa” như tác phẩm của Lưu Quang Vũ ông nhỉ !…
…..
Thấy đề tài còn hấp dẫn, tôi hỏi thêm:
-          Còn chuyện gì nữa không bác?
Ông ta kể: Một lần đang đợi xe, có khách ăn mặc rất lịch sự, dày đen bóng, quần áo vét tông, sơ mi màu rất hợp và xách một cặp da đen không lớn không nhỏ như cặp tài liệu, nhờ tôi chở đến tòa soạn một tờ báo. Tôi đoán anh ta là phóng viên hoặc quản lý báo chí cơ quan này. Đến nơi anh ta xuống xe, rút trong túi ra  tờ 100 đô la nói rằng: tôi không có tiền việt, nhờ bác đi đổi hộ, trừ tiền công của bác, số còn lại trả tôi. Một trăm đô tôi chỉ đổi 1,8 triệu thôi.
-    Nhưng tôi làm gì có tiền triệu để đổi cho anh.
-          Thế này nhé, bác đợi ở đây mười phút, tôi vào cơ quan mượn tiền anh em, ra trả cho bác.
Em đang lưỡng lự thì hắn đã đi vào khỏi cổng. Đứng đợi nửa tiếng không thấy hắn ra em đành vào hỏi mấy ông bảo vệ. Người ta bảo không biết ông khách này, chúng tôi không giám hỏi vì nom ông ấy rất đàng hoàng.
-          Vậy phía sau cơ quan có cổng phụ không? Bác xe hỏi.
-          Không có cổng phụ, chỉ có nhà mấy hộ gia đình phía sau có một lối nhỏ đi vừa một xe cải tiến để người ta đi ra ngoài. Ông bảo vệ trả lời.
Thế là lại gặp một thằng lừa đảo! mà có khi tờ 100 đô la kia là tờ tiền âm phủ cũng nên. Em chỉ trách mình không cảnh giác, giá như cứ cầm, phát hiện tiền giả thì hắn đã no đòn với em rồi…
Mà hình như ông là nhà văn à? Không nhà văn, nhà báo cũng là nhà thơ vì em thấy ông chú ý những chuyện em kể. Em ở khu vực này lâu em biết, ai đến Bảo tàng Văn Học đều như vậy cả.
-          Tôi cám ơn bác về những câu chuyện vừa rồi.
-          Không có gì. Mấy khi gặp được khách quý như ông đâu, giãi bày tâm sự với nhau là hiếm có ông ạ. Em mong mấy ngày lại gặp ông một lần, em còn nhiều chuyện lắm.
-          Vâng, xin cám ơn bác.
    Tôi gửi bác 50 ngàn. Bác nói: em chỉ lấy ông 30 ngàn như thỏa thuận ban đầu.
    Thôi, bác cứ nhận đi, không phải trả lại và tôi xin bác một kiểu ảnh làm quen bác nhé.
    Tôi đưa máy lên chụp. Khuôn mặt ông tươi rói, rạng rỡ.

    Chắc ông ấy vui lắm.

Em đợi anh mãi

Thưa các bạn.
Tôi sẽ đăng những câu chuyện đời thường lên trang và mời các bạn cùng đọc và chia sẻ nhé.

      Câu chuyện thứ nhất:

      EM ĐỢI ANH MÃI

    Trời đang mưa bụi nhỏ hạt. Tôi mặc vội chiếc áo khoác ngoài cho đỡ rét của đợt gió mùa đầu đông, đi bộ đầu giờ sáng quanh hồ Hoàng Cầu như thường lệ. Mưa vẫn bay từng hạt nhỏ bám vào mặt, có cảm giác phải tìm nơi ấm. Ra đường, quần áo đã đầy đủ và vừa đi vừa hít thở sâu để luyện phổi, Chân bước nhẹ nhàng đều đặn, đi dạo quanh hồ. Bỗng một người con gái đi xe máy ngược chiều dừng đỗ trước mặt:
-          Anh ơi, em đợi anh mãi.
Đang tập trung đi bộ, mình nghe thấy thế ngạc nhiên:
-          Bạn hỏi ai vậy?
-          Em đang nói chuyện với anh mà.
Tôi ngước lên nhìn xem có phải người quen mình không. Hình như tôi chưa gặp bạn ấy bao giờ, vậy sao người ấy lại có vẻ thân thiết với mình đến thế?
Tuy vậy tôi vẫn hỏi lại:
-          Bạn đợi tôi có việc gì? Bạn có nhầm không? Tôi cố tình nhấc cái mũ mềm ra khổi đầu giả vờ gãi gãi trên tóc để cho bạn ấy hiểu rằng tôi đã cao tuổi, tóc đã bạc.
Tuy vậy cô ấy vẫn hỏi:
-          Anh có đi chơi với em không?
-          Chơi gì, ở đâu? Tôi hỏi.
-          Chỉ quanh đây thôi anh.
-          Nhưng chơi gì mới được chứ?
-          Ở nhà nghỉ quanh đây hoặc ở đâu cũng được mà.
Vậy là đã rõ. Từ ngạc nhiên ngỡ ngàng đến hiểu đầu đuôi câu chuyện của bạn ấy là đi kiếm tiền, mà phải đi chào mời giữa đường vào lúc sáng sớm thế này ư?. Tôi để ý quan sát người con gái đã tiếp cận cánh mày râu này. Tầm 30 tuổi, dáng người lao động quê ngoại thành, chiếc xe máy driem cũ kỹ có vẻ chở hàng từ nơi sản xuất rau cỏ, gà vịt ra nội thành giao hàng cho người thu gom bán lẻ, nhân thể đi tìm khách để bán cái vốn tự có kiếm thêm đồng ra đồng vào. Nhưng tại sao vừa mới gần sáu giờ  đã đi tìm khách thế nhỉ. Bây giờ ai rỗi hơi để đi chơi với cô ấy. Người trẻ thì đang ngủ vùi thêm và chuẩn bị đi làm. Chỉ có người nghỉ hưu mới dậy sớm để tập thể dục, đi bộ hoặc tham gia các câu lạc bộ ngoài trời của các cụm dân cư.

      Thế mới biết Con gái thời nay bạo dạn thật.

Phút thiêng dân tộc

Một rừng rực đỏ cờ hồng
Một rừng người đứng ngóng trông đợi chờ
Phút thiêng mong đợi từng giờ
Một giây lịch sử bất ngờ nổ tung.

Mỹ Đình chảo lửa nóng nung
Vỡ òa tung cánh vẫy vùng hoan hô
Việt Nam vô địch dựng cờ
Mười năm chờ đợi đến giờ tung bay.

Từ rừng rung chuyển ngàn cây
Đến vùng biển lớn cá đầy reo vui
Hân hoan dân tộc rạng ngời

Xứng danh con cháu một thời chờ mong…

Nói với con dâu


“Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha đón về”
Ngày xưa thủ tục nặng nề
Bây giờ đâu phải luật lề nữa đâu?

Từ nay bố mẹ có dâu
Việc nhà con hãy bắt đầu lo toan
Ước mơ có một dâu ngoan
Trong nhà, trong họ quý hơn được tiền.

Con trai mẹ, có vợ hiền
Biết lo biết liệu mới yên cửa nhà.
Một lòng quý trọng mẹ cha

Dù là Tiến sĩ vẫn là con dâu…

Lời hứa

Em hứa rằng sẽ ở bên anh
Cả một tuần hay hơn thế nhé
Phú Quốc, Côn Lôn, Vũng Tàu , Mũi Né
Hay Nha Trang, Đà Nẵng Khánh Hòa
Ngay bây giờ hay chờ một ngày không xa
Hoặc đến khi thiên thời địa lợi
Nhân hòa ư xin em đừng vội
Vì chúng mình đâu có vô tư
Lời nói suông ai đánh thuế bao giờ
Chỉ cốt để đẹp lòng nhau em nhỉ
Thôi cũng được nói chung là quý
Còn hơn không hứa, hứa hơn không...

Ngày hội

Thưa các bạn.
ngày 24. 11. 2018 tôi đang họp tại UBND phường Ô Chợ Dừa được ông Bí thư chi bộ khu dân cư 26 rỉ tai: Sinh hoạt Chi bộ lần này, nhờ nhà thơ đọc cho một bài thơ nhé. Rất vui vì người đứng đầu quan tâm tới văn học, tôi nhận lời. Sau đó lúng túng vì không biết chọn bài nào. Nghĩ mãi, Hay mình sáng tác cho hợp với không khí của một buổi sinh hoạt của chi bộ mình. Vậy là tôi cầm bút, và sau một đêm đã có tác phẩm này.
Các bạn chia sẻ với tôi nhé.

Cứ hàng tháng đến chiều mồng 3
Lại nhớ đến ngày mình đi sinh hoạt
Ngõ nhỏ, đường quen nghe từng giọng hát
Tiếng ai ru từ lối phố ra đình
Ngày mồng ba nhắc nhở ta mình
Chén nước chè xanh - chen ngang câu chuyện
Thế giới tuần qua những gì chuyển biến
Trong nước có những gì kể lại nhau nghe
Đảng phí không quên – ai ốm! ai về!
Phụ nữ vừa rồi có làm kỷ niệm?
Chuyện nhỏ chuyện to trong làng ngoài biển
Đưa ra đình ta bàn chuyện dân sinh
Cuộc sống hôm nay đã thắm nghĩa tình
Mái đình cong cong có thành hoàng chứng giám
Tuổi nghỉ hưu mong vui cùng bè bạn
Mỗi tháng một lần ta nhớ chia vui
Sinh hoạt hai chiều đâu phải nhân đôi
Cũng là dịp Đảng viên hiểu nơi mình sống
Chia sẻ khó khăn thăm nơi hoạn nạn
Chăm chút trẻ em cắp sách tới trường
Đảng viên ốm đau thăm hỏi thân thương
Hộp sữa cân đường thăm gia đình thương binh liệt sĩ
Nói ra hết việc công nặng nhẹ
Xây dựng khu dân cư bình an là nhiệm vụ Đảng trao.

Đình làng cong vút mái đao
Từng viên ngói mỏng xôn xao chuyện trò
Đảng viên chung sức chăm lo
Khu dân cư mới sao cho vẹn toàn…


Hà nội ngày 24 tháng 11 năm 2018

Bài viết của Nguyễn Trọng Tạo về Văn Cao

BA BIẾN KHÚC VĂN CAO - NGUYỄN TRỌNG TẠO
1.
Người gọi ông là “ba đỉnh núi sương mù”. Người gọi ông là “Dòng sông ba nhánh”. Người gọi ông là “Nghệ sĩ đa tài”. Người gọi ông là “Bậc tài danh thế kỷ”… Khi tôi gặp ông thì ông đã 57 tuổi, chòm râu dài phất phơ ngả bạc như tiên lão bảy mươi. Ông ngồi một mình trên đi-văng đệm vải cũ càng, mắt nhìn vào chén rượu gạo bình dân như chẳng chờ đợi một điều gì. Có lẽ ông đã ngồi như vậy mấy chục năm liền. Những chai rượu đầy vơi vơi đầy không nhớ đã bao lần.
Cũng không nhớ đã bao lần trên đất nước này và cả những nước khác, người ta đã hát vang bài ca của ông, bài Quốc ca Việt Nam mang hồn thiêng sông núi: Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc. Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa.
Khi nghe Phan Lạc Hoa giới thiệu tôi, mắt và miệng ông ánh lên nụ cười gần gũi, bình dị: “À, cái anh Nghệ nhận Quan Họ làm quê đây!”. Ông với tay kệ tủ lấy thêm ly, và Nguyễn Thụy Kha rót rượu. Ông đối với bọn trẻ chúng tôi như với bạn. Khi thân mật rồi, hầu như chẳng còn khoảng cách tuổi tác. Có lẽ vì thế mà ông luôn luôn mới. Chúng tôi rủ ông đến quán lòng lợn tiết canh đầu chợ Đuổi, ông đồng ý ngay, nhưng nhắc là nên mua rượu ở quán cạnh bến xe Kim Liên, loại rượu gạo ông thường uống. Quán đông quá, chúng tôi mượn một cái chiếu trải vào túp lều tranh bỏ trống bên cạnh. Cứ ngồi xếp bằng mà uống rượu và hút thuốc lào như ở làng ở xã. Người ra vào chợ đông đúc, ồn ào, hình như cũng không ai biết ông già ngồi quán bình dân này là tác giả Quốc ca. Còn chúng tôi, lần đầu tiên được biết những bài thơ ông làm để rồi cất lại trong lòng, không đưa in đâu cả, mà dù có đưa in thì người ta cũng chẳng in cho. Mấy chục năm nay, ông chỉ làm bìa sách, vẽ hình minh họa cho báo và làm nhạc… không lời. Những bài thơ của ông khiến chúng tôi nổi cả da gà, kinh ngạc vì thán phục. Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ của ông thật đến siêu thực. Thơ của ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.
Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội.
Mọi con người đeo mạt nạ đi chơi.
Vui lên cành non
Lá bàng trên phố xanh màu ngọc

Những mặt nạ gặp nhau chào hỏi

Ô kìa
Nước mắt mồ hôi
Sao chảy ra trên từng mặt nạ
Đến giờ, tôi vẫn nhớ giọng vang trong của ông đọc thơ trong quán rượu. Bài thơ Năm Buổi sáng không có trong sự thật ông làm năm 1960 mà tôi tưởng ông vừa làm trong quán rượu năm 1980 này. Chúng tôi nghe như nuốt từng lời thơ của ông vào tâm khảm. Khi ngấm rượu, ông nói hay đến nỗi tôi tưởng là đang nghe ông trong giáo đường chứ không phải giữa chợ. Vì thế mà chúng tôi đều thuộc bài thơ ngắn Không đề ông làm năm 1967. Bài thơ như một cuốn phim cực ngắn chứa đầy âm nhạc và treo lơ lửng một câu hỏi trước cuộc đời:
Con thuyền đi qua
Để lại sóng
Đoàn tàu đi qua
Để lại tiếng
Đoàn người đi qua
Để lại bóng
Tôi không đi qua tôi
Để lại gì?
Hơn 20 mươi năm “im lặng” về thơ lại chính là thời gian ông làm thơ nhiều nhất. Những bài thơ chi chít trong cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong quán rượu. Có bài thơ được ghi lại không phải chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bắt ông đọc lại để bà chép lại. Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép lại những bài thơ trong tập bản thảo nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá, Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn. Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!”. Dù là trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận, đấy là bài Đồng chí của tôi viết năm cải cách ruộng đất (1956). Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế. Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông. Chúng tôi biết điều đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay. Đầu năm 1995 này, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến “thời” bài thơ có thể in được rồi, nhưng ông nói sau khi nhấp một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in cũng chưa muộn”. Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…
(1956)
Tập thơ Lá của ông được in ra không đúng như chúng tôi đã chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra, và thay vào mấy bài thơ ông in báo hồi kháng chiến chín năm. Tuy không được hài lòng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Ông lại tiếp tục viết những bài thơ mới. Vẫn là Văn Cao tươi ròng, không tuổi.
Tôi đẻ ra trần truồng
được những lót tã
là của cải…
2.
Sao tôi lại nhớ sinh nhật 60 tuổi của ông? 15 -11 -1983. Chiều, trong căn phòng gác hai số nhà 51 Trần Hưng Đạo, nơi Bảo Đại từng ở sau cách mạng tháng Tám, nơi mà một phần tư thế kỷ trước Văn Cao thường xuất hiện cùng bạn bè đồng nghiệp văn nghệ sĩ. Lâu quá rồi ông mới xuất hiện chính thức thức trở lại nơi này, và là nhân vật chính của buổi lễ sinh nhật 60 tuổi do Hội Nhạc sĩ tổ chức. Hoa và rượu. Những lời chúc tụng, những bài hát của ông vang lên mừng tuổi ông. Có cả Thiên Thai, Trương Chi hơn 30 năm vắng bóng trở về, khiến cả hội trường lặng phắc, ân hận và khâm phục. Chiếc dương cầm Đặng Thái Sơn tặng Hội Nhạc sĩ sau lần đăng quang, vang lên những bản nhạc không lời Văn Cao. Những bản nhạc ông viết sau cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn – Giai phẩm kết thúc, sau cái đêm trắng đi cùng với Hữu Loan quanh hồ Ha-le ngột ngạt, u ám, không biết nói gì trước khi chia tay nhau để tác giả Màu tím hoa sim trở về Thanh Hóa làm một “Lão nông tri điền”. Những bản nhạc chứa đầy nỗi đau chia cắt cùng với khát vọng thống nhất cháy bỏng. Đấy là các bản Hàng dừa xa, Sông tuyến và Biển đêm. Rồi đến lượt Văn Cao xuất hiện trước cây dương cầm. Im lặng. Chờ đợi. Ông cứ ngồi im trước cây đàn đến mấy phút liền. Một bàn tay của ông đã bị chấn thương trước đó 10 năm, khi ông đang đi bách bộ trên hè đường và bị một chiếc xe com-măng-ca không số từ dưới đường tạt lên chèn ngã. Ông sẽ chơi đàn thế nào đây? Bỗng bàn tay ông nắm lại thành một nắm đấm. Ông bất ngờ đấm vào những phím đàn, vang lên hợp âm chói gắt như bom nổ. Thêm một nắm đấm nữa. Hai nắm đấm của ông cùng với cả cùi tay trút bão táp vào cây đàn, hết đợt này đến đợt khác. Chuỗi âm thanh ghê gớm ấy bỗng lặng đi đột ngột. Mọi người như nín thở. Ông dùng ngón tay trỏ chầm chậm mổ nhẹ vào một phím đàn, từng tiếng, từng tiếng một vang lên rành rọt, chậm dần, nhỏ dần cho đến khi ông thu bàn tay lại, trong tiếng vỗ tay ào lên không dứt của mọi người.
Trước Văn Cao, chưa thấy ai chơi đàn như thế. Chính vì thế mà ông luôn là ông, không giống ai, và nếu ai muốn giống ông thì cũng khó mà giống được.
Tối hôm đó, ông hẹn mấy người về nhà ông uống rượu. Tôi và Kha tới thì đã thấy Văn Cao đang ngồi cùng Trịnh Công Sơn và Cao Xuân Hạo. Ông nhờ tôi sang gọi Trần Dần bên kia đường Vũ Lợi. Ông bảo: “Có thêm Trần Dần nữa mới vui”. Tôi đến nhà Trần Dần thì ông đang bên nhà hàng xóm. Trong lúc đợi vợ ông đi gọi ông về, tôi nhìn vào bức tường và thấy hiện rõ một hình nhân. Đấy là nơi Trần Dần tựa lưng suốt mấy chục năm qua. Tôi rùng mình hình dung ra cái bóng đang động cựa như một con người thật. Vừa lúc Trần Dần về trong bộ quần áo pirama ngả màu cháo lòng, ông gầy yếu quá, gầy yếu hơn cả cái bóng của chính mình trên tường nhà.
- Anh Văn mời anh sang nhà uống rượu – Tôi nói – Hôm nay sinh nhật anh ấy. Sáu mươi rồi.
- Thế à? Những ai?
Tôi kể tên mấy người. Trần Dần mỉm cười:
- Thế thì sang.
Vợ ông nhắc ông thay quần áo. Nhưng bộ quần áo mới cũng đã cũ lắm rồi. Ông kém Văn Cao ba tuổi, nhưng trông già nua và chậm chạp như một ông lão khổ hạnh. Chỉ có đôi mắt là lúc nào cũng có lửa. Cái ngọn lửa đó đã rực cháy trong nhiều tác phẩm văn thơ của ông dọc các nẻo đường kháng chiến: Cách mạng tháng Tám, Trường ca Việt Bắc, Nhất định thắng, Người người lớp lớp… và hàng loạt tác phẩm còn nằm trong bản thảo như tiểu thuyết Cổng Tỉnh, Mùa sạch, Ngã tư những cột đèn, v. v…
Văn Cao với tay lên kệ tủ lấy thêm một cái ly thủy tinh đặt trước mắt Trần Dần. Trong khi tôi rót rượu, ông dặn tôi: “Dần sức yếu, dễ say đấy”. Nhưng sau khi cụng ly, chỉ riêng Trần Dần là uống cạn.
Chuyện trò, đọc thơ, và hát. Cao Xuân Hạo nhớ nhiều những kỷ niệm thời kháng chiến chống Pháp, về những bài hát thời bấy giờ của Văn Cao mà anh đã hát. Văn Cao cũng nhắc lại vài bài hát của Cao Xuân Hạo mà ông đặt nhiều hy vọng. Cao Xuân Hạo có một giọng hát thật vang trong, bay bổng, đã ở tuổi 53. Chúng tôi ngạc nhiên khi nghe bài hát thuở xưa của anh. Văn Cao nói rằng, ngày ấy nếu Hạo đi hẳn vào nhạc, chắc chắn sẽ thành đạt, dù sau này là một dịch giả nổi tiếng về Lép Tônstôi, Đôxtôiepski, Aitmatốp… Trần Dần chỉ lặng im uống và nghe, dù là nghe chính những câu thơ lấp lánh, táo bạo của ông do Nguyễn Thụy Kha hay Văn Cao đọc lên. Chỉ đến khi nghe Trịnh Công Sơn hát, ông mới nheo mắt cười cười, buột ra mấy tiếng: “Tiểu quỷ! Mày là tiểu quỷ!”, rồi cũng chẳng giải thích gì thêm. Cứ thế mà cuộc rượu kéo dài tới nửa đêm, mặc cho bà Băng nhắc nhở về thời gian, và ép người này người khác ăn các món do chính tay bà nấu.
Khi chúng tôi chia tay vợ chồng Văn Cao bước xuống cầu thang, chuông đồng hồ nhà bên điểm 12 tiếng. Thế là trọn ngày sinh nhật của ông. Tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng, cuộc đời đã bắt đầu bước vào một ngày mới.
3
Hai mươi năm cuối đời, Văn Cao chỉ viết vài ba bài hát, đấy là bài Mùa xuân đầu tiên(1976) và bài Tình ca Trung du (1984). Bài mùa xuân đầu tiên ông viết sau ngày nước nhà thống nhất, khi cảm xúc trào lên ào ạt ở những người khác, thì cảm xúc của ông lắng lại, bình thản sau quá nhiều xáo trộn cuộc đời. Ông nhìn thấy “mùa xuân dặt dìu theo én về”, ông lắng nghe tiếng “gà đang gáy trưa bên sông”, và ông khẳng định rằng cái “mùa bình thường” đã về: “Từ đây người biết quê người – Từ đây người biết thương người – Từ đây người biết yêu người”. Âm nhạc của ông vẫn đẹp, ấm và sang trọng, thoát hẳn ra ngoài những bài hát reo vui đại thắng lúc bấy giờ. Đó là bí mật tài hoa của riêng ông. Bài hát liền sau đó được dịch và in ở Liên Xô. Chỉ tiếc rằng, hầu như nó chẳng được phổ biến trong đất nước của mình. Có lẽ ông ít viết bài hát ở giai đoạn sau là vì thế. Rồi mùa thu 1984, tôi đi cùng ông trong tốp nhạc sĩ lên Vĩnh Phú theo lời mời của bộ tư lệnh Thông tin. Có lẽ lâu lắm rồi, ông mới có dịp “đi sáng tác tập thể” như lần này. Chúng tôi về một nhà máy thông tin dưới chân núi Thắm, tiếp xúc với những người lính thợ, nghe thành tích của họ, xem họ làm việc và nói chuyện, đọc thơ, hát cho họ nghe. Văn Cao kể lại những kỷ niệm xưa bên dòng sông Lô đã giúp ông viết nên bản Trường ca Sông Lô bất hủ. Trên đường về, gặp nhà thơ Bút Tre, hai ông hôn nhau xúc động chảy nước mắt. Nguyễn Thụy Kha gọi Văn Cao và Bút Tre là tiêu biểu cho hai “trường phái thơ hiện đại Việt Nam”. Các ông được xếp “đồng hạng” với nhau, lấy làm thích thú lắm. Sau chuyến đi ấy, chúng tôi đều viết về bộ đội thông tin, chỉ riêng Văn Cao là viết tình ca. Bài Tình ca Trung du giai điệu sáng láng, lời ca đẹp như thơ. Một cánh tay sông Hồng. Một cánh tay sông Lô. Hai cánh tay như ôm trung du. Và ở đoạn kết là lời hẹn hò trở lại thật bâng khuâng: “Hẹn trở về bên núi Thắm, vào một ngày mùa thu sáng láng… nắng trên đồi như trôi trên sông”.
Càng ngày, sức khỏe Văn Cao càng giảm. Huyết áp thường bị tụt. Phổi bị khô. Cột sống bị thoái hóa, có giai đoạn phải mặc “áo giáp” để đỡ cột sống. Nhưng ngồi với ông, lúc nào cũng vui. Tháng tư 1985, Thanh Thảo ra Hà Nội tổ chức cho Văn Cao, Nguyễn Thụy Kha và tôi vào thăm Nghĩa Bình theo lời mời của Tỉnh. Ông mừng lắm, thậm chí còn nói rằng, có thể đây là chuyến đi cuối cùng về phía nam. Đang chuẩn bị thì ông bị đau, may mà qua nhanh được. Thanh Thảo lấy thêm vé máy bay cho vợ ông, vì nếu thiếu bà thì chuyến đi sẽ dễ gặp bất trắc, bà còn là “bác sĩ riêng” của ông. Cả tỉnh Nghĩa Bình mừng vui đón ông, chỉ thiếu dựng cổng chào. Tôi nói vui như thế, vì ở đâu ông cũng được quần chúng hâm mộ và kính trọng như đối với một nhân vật đặc biệt của đất nước. Còn ông thì đối với ai cũng bình dị, gần gũi. Đêm ghé vào khách sạn Sa Huỳnh, cả khách sạn mời ông ở lại trọn đêm. Ông gọi những người ở đây bằng em và bảo họ cứ gọi ông là anh. Và ông tự giới thiệu: “Anh chỉ hai mươi thôi – rồi ông chỉ vào vợ – còn đây là bồ của anh”. Chính tâm hồn trẻ đẹp của ông đã xóa đi sự ngăn cách về tuổi tác, về sự mặc cảm giữa con người.
Trong chuyến đi này, ông “phát hiện” ra rượu Bàu Đá, một loại rượu trắng được nấu từ các lò rượu làng Bàu Đá, cách thành Bình Định tám chín cây số. Văn Cao cho rằng trong đất nước này, chỉ có rượu Bàu Đá mới có thể sánh được với rượu Làng Vân nổi tiếng, ông nhấp rượu Bàu Đá và nhận xét: “Rượu Vân mỏng, rượu Bàu Đá dày”. Xe đi tới đâu cũng chở theo rượu Bàu Đá, vì ông không hợp với bia. Đến huyện Mộ Đức, trong bữa tiệc chiêu đãi, thấy ông mang rượu trắng ra uống, người ta liền mang ra mấy chai Napoléon thật đặc biệt: vỏ chai sần sùi bởi những con sò biển đã bám chặt từ bao giờ. Đấy là rượu huyện vừa vớt được từ dưới đáy biển Ngang. Chả là hồi 1976, một con tàu chở rượu từ Sài Gòn ra Hà Nội phục vụ đại hội Đảng đã bị đắm ở đây. Ôi, rượu Napoléon dưới đáy biển cả chục năm trời, thế gian này đã mấy ai được uống? Thế mà Văn Cao và chúng tôi đã gặp may mắn bất ngờ.
Mấy ngày sau, Văn Cao viết được hai bài thơ Qui Nhơn 2 và Quy Nhơn 3 khép lại chùm thơ Qui Nhơn độc đáo mà bài Qui Nhơn 1 ông đã viết ở Hà Nội. Khuya lắm rồi, ông gõ cửa phòng tôi, gọi tôi sang phòng ông uống rượu, và nghe thơ mới làm. Tôi giật mình khâm phục bài thơ và sức sáng tạo của ông. Chúng tôi, ai mà chẳng nhìn thấy những tháp Chàm đơn côi dọc miền Trung, nhưng cái nhìn của ông thật lạ lùng:
Từ trời xanh
rơi
vài giọt tháp Chàm
Tôi đọc kỹ hai bài thơ mới của ông, và xin ông sửa một chữ trong đoạn kết bài Qui Nhơn 2: “bỗng một ngày bà mẹ Qui Nhơn – nói với tôi một lời – một tiếng – chào con!”. Theo tôi không nên dùng chữ chào, bà mẹ mà chào con thì khách sáo thế nào ấy, nên dùng chữ à con, nó vừa tự nhiên, vừa tình cảm. Văn Cao khoái lắm, ông khen tôi: “Mày đúng là thằng Nghệ”. Và ông nhờ tôi lấy bút sửa vào bản thảo giùm ông. Trong nghệ thuật, Văn Cao là một người biết lắng nghe. Chính vì thế mà ông trở thành tầm cỡ.
Mỗi lần ra Hà Nội, tôi thường cùng Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo hoặc Hoàng Phủ Ngọc Tường ghé thăm ông ở căn nhà 108 Yết Kiêu. Lần nào cũng được ông dành cho chai rượu ngon. Những chai rượu người ta tặng ông. Lần cuối cùng gặp ông ở Đại hội Nhạc sĩ, ông lại bảo: “Tao dành chai rượu, trước khi về, mày đến mà mở”. Nhưng tôi đã lỡ hẹn với ông. Ngày Hà Nội đưa tang ông, tôi ở Huế buồn quá, đến nhà Mai Khắc Ứng uống rượu, cùng nhau tưởng nhớ ông. Tôi uống gần hết bình rượu mà Mai Khắc Ứng không dám ngăn, vì sợ tôi buồn. Mãi ngày sau tôi mới biết, đấy là bình rượu nhung hươu bạc triệu của ông bạn họ Mai. Trong cõi Thiên Thu, giá mà biết chuyện này, chắc Văn Cao sẽ cả cười…
Huế, tháng Bảy, 1995

Thơ Minh Hiền và lời bình của Nghiêm Thản

Trân trọng giới thiệu cùng các bạn: Nhà thơ Minh Hiền và nhà thơ Nghiêm Thản cùng là hội viên của Diễn Đàn Văn hóa Nghệ thuật Đường sắt và Xây Dựng VN. Những sáng tác của 2 người đã nằm lòng bao bạn đọc. Tôi xin phép đưa lên những sáng tác mới của nhà thơ Minh Hiền và Nghiêm Thản về bài viết của hai người lên trang cá nhân để bạn bè tôi có dịp làm quen với hai bạn nhé.

TA HÃY XEM NỖI LO LẮNG TRĂN TRỞ CỦA
NỮ SĨ MINH HIỀN QUA BÀI THƠ “LỆCH”
LỆCH
Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa
Sợ mưa bong bóng cứ đùa
Sợ hồn giông bão cứ ùa vào tôi
Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng.
Minh Hiền
Lời bình: Nghiêm Thản
Trong dân gian mọi người thường nói “Thế gian được vợ hỏng chồng”. Đó là sự triết lý của ông cha ta từ bao đời nay, tất cả mọi việc trên đời, ít có sự hoàn hảo, mà hoàn hảo đến tuyệt đối lại càng khó. Chỉ sáu câu lục bát nhà thơ Minh Hiền đã khắc họa nên điều đó. Cũng giống như câu ca dao:“Bây giờ chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch so sao cho bằng”. Đó chính là cái lệch nhau trong cuộc sống. Cũng chính vì thế nên tác giả sợ nhiều điều:
“Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
Sợ ngày bỏng rát, để duyên cạn mùa”
Nhà thơ sợ “đêm vẫn khoác đen” hay sợ cái bóng tối cứ bao trùm mãi cuộc đời. Những đau thương, mất mát khổ đau, những dằn vặt, cô đơn... Cứ đeo đẳng theo suốt cuộc đời. Ở đây ta thấy tác giả dùng phép tu từ thật độc đáo, từ “đêm” có nghĩa là tối, mà đã tối thì phải “đen”. Từ “đen” đồng nghĩa với tối, mà đã tối tức là “đêm”. Đọc câu thơ ta thấy cái thi vị của thơ, ta thấy giá trị của ngôn ngữ trong thơ, ta thấy yêu thơ hơn. Câu thơ nó hay ở chỗ “đêm vẫn khoác đen”. Đã đêm rồi, đã tối tăm rồi, đã đen rồi còn khoác thêm đen. Thử hỏi cuộc đời đen tối, khổ hạnh đến bao giờ mới nhìn ra ánh sáng. Từ “khoác” ở đây thật thú vị, “khoác” gần đồng nghĩa với trùm, cuộc đời đã tăm tối còn trùm thêm đen bạc thì khổ sở biết chừng nào. Đấy là Minh Hiền sợ cái bóng đêm dài dằng dặc. Còn ngày thì sao, ta hãy xem sự lo lắng của chị:“Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa”. Cái sợ “Ngày nắng rát” của chị cũng như Tố Hữu đã viết:
“Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
(Khi con tu hú).
Tiếng chim tu hú kêu hay tiếng than vãn của con người. Đêm thì sợ kéo dài lê thê, ngày thì sợ nắng chói trang bỏng rát như quất vào da thịt. Hoàn cảnh thật trớ trêu, nó ngột ngạt u uất,“để duyên cạn mùa”. Từ “duyên” đã lý giải cho câu thơ. Không phải cuộc sống éo le vất vả, mà là một cuộc tình trái ngang, chật chội. “Duyên cạn mùa” hay tình yêu đã dần dần héo hon thui chột. Bát nước đầy lỡ đổ vớt lại không? Chưa hết tác giả vẫn còn:
“Sợ mưa bong bóng cứ đùa
Sợ hồn giông bão cứ ùa vào tôi”.
Nói đến hình ảnh “mưa bong bóng” người ta thường liên tưởng đến sự đổ vỡ chia ly, cách trở:
“Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?”
(Ca dao).
Tình yêu mong manh, mơ hồ như những quả bong bóng trôi nổi dưới mặt đất giữa trời mưa, phập phồng to nhỏ rồi lại tan vỡ đi, cứ thế, cứ thế... Như giỡn đùa với số phận, nó cũng sẽ tan như bong bóng xà phòng. Và chẳng bao giờ phồng lên được, thế là hết. Điệp từ “sợ” được lập lại tới bốn lần, tác giả đã khái quát được nỗi lo lắng trăn trở trước cuộc đời. Lần cuối cùng tác giả “sợ hồn giông bão”, hay sợ sự vùi dập, sợ sự tàn phá, sợ cái gì sắp đổ vỡ, hoang tàn, cô đơn, hiu hắt. Bốn câu lục bát liên tục đối nhau: “Đêm” đối với “ngày”, “nắng” đối với “mưa”, “mưa” đối với “giông, gió” càng làm tăng sự lo lắng, dằn vặt, như những đợt sóng cứ nối tiếp nhau lớp lớp chồm lên nhấn chìm đi cái gọi là hạnh phúc. Đây cũng chính là thủ pháp độc đáo sử dụng cách tiểu đối trong thơ của Minh Hiền. Những cái “sợ” của tác giả, đã mô phỏng, chính là từ những cái “lệch” trong cuộc sống:
“Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng”.
Một sự so sánh thật thú vị mà lãng mạn, cái “lệch” của tình yêu đôi lứa lại ví như “lệch mùa trăng”. Đành rằng ai cũng biết trăng thì khi tròn khi khuyết, dù có lệch mùa vẫn thế thôi. Nhưng hình ảnh vầng trăng sẻ nửa thì thật phũ phàng ngang trái. Ta vẫn biết mùa trăng là mùa thu, trời trong xanh leo lẻo, nên ánh trăng lại càng sáng như cụ Nguyễn Khuyến đã vịnh:
“ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
(Thu vịnh)
Mùa trăng đẹp là vậy. Mùa trăng cũng là mùa cưới, mùa xây tổ ấm của những đôi uyên ương. “Hoa cúc vàng bắt đầu mùa cưới đó / Nắng hanh hanh cho má em ửng đỏ / Gió heo về mang hương vị tình yêu” (Chuyện chúng Mình của N.T), mà lệch mùa thì thật là buồn, nó tạo nên sự huyền ảo, ảm đạm, mơ hồ, nhạt nhẽo. cái “lệch mùa” ấy Hàn Mặc Tử cũng đã viết:
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ”
(Huyền ảo)
Trăng trong thơ của Minh Hiền đã “lệch mùa” lại bị sẻ làm đôi thì buồn quá. Có phải chăng đây là sự đổ vỡ của những cuộc tình ngang trái. Vậy nên chị sợ “ đêm vẫn khoác đen” là đúng thôi . Khi đã lệch, ai cũng muốn kê cho bằng. Sự tha thứ, lòng vị tha, tính nhân văn trong mỗi con người lại là điều cần thiết. Nhưng tác giả lại gửi hồn mình vào thơ, chị chắp cánh cho thơ bay trong gió, chị “ thả thơ trôi cho bằng” .Câu kết thật thú vị, chị viết rất ảo mà lại đúng. Bởi thơ đâu phải một vật gì mà đem kê cho khỏi lệch, Nhưng thơ lại làm được điều đó, và hơn thế nữa. Tính hiện thực trong thơ của Minh Hiền đã được lý giải, bởi không ít trong thực tế đã minh chứng. Những sân chơi đã ít nhiều kéo lại sự thăng bằng trong cuộc sống.
Với bốn mươi hai từ Minh Hiền ghép thành sáu câu lục bát, như đã giãi bày tình cảm, chia sẻ với độc giả bằng cách nén câu, nén chữ, ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích. Giàu hình ảnh, trìu tượng mà cụ thể, ảo mà thật, dễ hiểu . Những thủ pháp tu từ, tiểu đối, so sánh, cách dùng điệp từ biểu cảm. Chị đã như dựng lại những màn tình cảm, của những cuộc tình có thật trong đời thường, như lời cảnh báo, răn đe. Có thể nói rằng: Sáu câu lục bát của chị, là sáu câu thơ tài hoa. Bởi nếu ta chỉ đọc riêng từng câu, bất kì ở dòng nào, một mình nó cũng đã tỏa sáng, đủ nghĩa, và chuyển tải được đầy đủ nội dung của câu thơ, như những lời triết lý (bốn cái “sợ” hai cái “lệch”). Tôi được biết gần đây Minh Hiền viết rất xung sức và chắc tay. Chúc chị khỏe mạnh, giàu cảm súc để có những tác phẩm hay hơn.
Hà Nội 16 - 10 – 2014
Nghiêm Thản

Bài của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo

Xin phép anh, tôi đưa cả bài đăng của anh vào trang cá nhân để bạn bè tôi cùng đọc. Đây cũng là kỷ niệm của tôi đối với anh. Cũng như những tấm ảnh mà anh cùng tôi chụp ở Đài Tiếng Nói VN và những dòng nhận xét về thơ thiếu nhi của tôi mà anh đã viết, giấy giới thiệu tôi vào HNV VN từ năm 2013 cùng với nhà thơ Đỗ Hàn. Những kỷ niệm ấy giữa tôi và các anh làm sao quên được.
Chúc anh qua khỏi mọi khắc nghiệt của bệnh tật và tiếp tục sáng tạo nghệ thuật anh nhé.
Cám ơn Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo.
Hà Nội ngày 4 tháng 11 năm 2018.

 CẢM TẠ LÀNG QUÊ BẰNG KHÚC HÁT SÔNG QUÊ - NGUYỄN TRỌNG TẠO

Trường hợp tôi viết bài hát “Khúc hát sông quê” cũng là một bất ngờ.
Cuối tháng 8 năm 2002 hội Nhạc sĩ VN tổ chức trại sáng tác hợp xướng ở Vũng Tàu, tôi tham gia trại và dồn thời gian viết hợp xướng “Hạt bụi”. Hạt bụi là một thứ nhỏ nhoi, không có gì đáng để ý. Nhưng người ta thường nói, con người cũng chỉ là hạt bụi, sinh ra từ cát bụi rồi trở về với cát bụi. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai tôi về làm cát bụi” – (Trịnh Công Sơn). Tôi suy nghĩ rất nhiều về hình tượng con người bé nhỏ với cuộc sống ngắn ngủi trong thiên nhiên rộng lớn vĩnh hằng, sẽ được diễn tả bằng hình thức hợp xướng. Tôi muốn có cả giàn hợp xướng trăm người, ngàn người để hát về “hạt bụi” nhỏ nhoi…
Đang vật lộn với “hạt bụi” thì ông bạn thơ Lê Huy Mậu (quê xứ Nghệ sống ở Vũng Tàu) đến rủ đi nhậu. Mậu đã kéo tôi ra khỏi dòng mạch cảm xúc đang dồn nén, khá căng thẳng. Thế là đi. Nhậu tưng bừng. Nhậu mút mùa. Nhậu khuya lắm mới về. Trước khi ra về, Lê Huy Mậu đưa tôi mấy bài thơ nhờ xem và nhờ đưa in báo Văn Nghệ cho anh. Chả là lúc đó Mậu đang viết đơn xin vào Hội Nhà Văn VN. In thêm một chùm thơ trên báo Văn Nghệ của hội sẽ tăng thêm sức nặng cho việc vào hội của anh. Tôi hứa sẽ đọc và chùm thơ hay thì sẽ đưa in cho anh.
Nhậu xong cũng đã khuya, Mậu chở tôi về phòng rồi chia tay, vì cũng đã say nhừ. Tôi đóng cửa ngủ vùi. Sáng dậy chạy ra biển tắm cho “giã rượu”. Tắm nửa giờ mà khi lên bờ vẫn còn chếnh choáng. Về phòng, tôi thấy trên bàn những bài thơ của Mậu. Chợt nhớ là phải đọc xem sao. Tôi ngồi vào bàn đọc, và khi đọc đến bài thơ dài “Khúc hát sông quê” thì lặng người xúc động. Đây không phải là một bài thơ độc lập, mà là một chương trong trường ca chưa in của Mậu. Rất lạ là chương trường ca này làm tôi cảm động, nó làm tôi thấy có một điều gì đó thật xa xăm, sâu thẳm cuốn hút tôi. Thì ra quê Mậu cũng giống quê tôi. Cũng con sông đôi bờ phù sa. Cũng những kiếp người lam lũ. Cũng lòng yêu thương và nhân hậu. Nhưng Mậu đã đã bắt được cái hồn quê nguyên ủy trong con người quê của Mậu. Mộc mạc, chân tình, nhưng độc đáo và day dứt đến không ngờ:
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
Những câu thơ khiến tôi ứa nước mắt.
Tôi đọc lại bài thơ và chính những câu thơ đầu tiên đã ngân lên âm nhạc. “Quá nửa đời phiêu dạt/ ta lại về úp mặt vào sông quê”, (khi đó tôi thay chữ ta bằng chữ con để xác định sông cũng là Mẹ). Rồi tôi đọc lần thứ ba, chọn lọc và viết lại một số câu thơ của anh cho hợp với sự phát triển của âm nhạc. Lần này thì toàn bộ bài hát đã ngân lên trong tôi. Tôi lấy giấy nhạc ra, và chỉ cần chép lại bản nhạc đã lưu vào bộ nhớ trong đầu tôi. Có những câu nhạc đã vang lên, nhưng lời thơ lại không hợp với các nốt nhạc. Tôi cứ để trống phần lời, vì với tôi, khi viết nhạc, tôi rất chú trọng đến khúc thức bản nhạc, như âm nhạc là một tác phẩm độc lập, không phụ thuộc vào lời thơ. Khi phổ nhạc cho thơ, tôi không thích âm nhạc phải “chạy theo” thơ, đánh mất tính độc lập của nó để rồi cuối cùng chỉ thành một tác phẩm “hát thơ”. Tôi muốn nó là một nhạc phẩm hoàn chỉnh, chỉ dựa trên cảm xúc của thơ, dựa vào lời thơ để làm nên một sáng tạo mới trong một loại hình khác. Khi viết xong phần nhạc, tôi viết lời cho những câu nhạc còn để trống. Nhiều câu thơ không thể bê nguyên xi vào bản nhạc được, ví dụ:
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
tôi phải viết lại cho hợp với âm nhạc:
Ơi con sông quê, con sông quê
Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ
Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng
Hoặc trong thơ Mậu viết:
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
Tôi rất thích câu “lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm” nhưng để giữ được câu đó, tôi phải dẫn dắt bằng những hình ảnh quen thuộc ở chốn sông quê “con cá dưới sông, cây trồng trên bãi” như một sự hiển nhiên. Nhờ cái sự hiển nhiên đó mà nó làm “đòn bẩy” cho câu tiếp theo “lúa gặt rồi – còn để lại rơm thơm” mang được ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc bất ngờ.
Nói chung, ca từ nhiều khi mang tính ước lệ mà vẫn tạo được ấn tượng mạnh vì nó đã có âm nhạc mang vác, chuyển tải, chắp cánh.
Và cuối cùng là câu kết, gói lại, cũng là mở ra hình tượng con sông quê, chính là hình tượng người mẹ, hình tượng quê hương mãi mãi trào dâng trong tâm trí mỗi người: “Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng”. Câu thơ này không có trong bài thơ. Khi viết xong bài hát, tôi tặng Lê Huy Mậu câu này để kết bài thơ, và Mậu rất vui.
Bài hát viết xong khá nhanh. Có lẽ đây là bài hát tôi viết nhanh nhất trong đời viết nhạc của mình. Lúc ấy mới gần 8 giờ sáng. Trong bản thảo đầu tiên của bài hát này được ghi “Vũng Tàu, ngày 2.9.2002”.
Tôi vui mừng gọi điện thông báo cho Lê Huy Mậu và bảo anh đến nghe rồi cùng đi ăn sáng. Mậu phóng xe máy đến, ngồi trên chiếc giường trải drap trắng phẳng lì. Tôi pha ấm trà nóng rồi hát cho Mậu nghe. Mậu nghe chăm chú, đến câu kết thúc thì bất ngờ anh nằm ngã ngửa trên giường, hai tay giang ra như một cây thánh giá. Tôi nhìn mặt anh như sưng vênh lên với tình cảm khó tả. Tôi hỏi: “Sao ông lại nằm đuỗn ra thế? Phổ vậy được không?”. Chợt anh ngồi vùng dậy, và nói một câu khá bất ngờ với tôi: “Anh làm tôi nổi tiếng đến nơi rồi! Bài hát này tôi tin là mọi người sẽ hát…”.
Chúng tôi đi ăn sáng cho đến chiều tối thì nhận được điện của nhóm ca sĩ Hà Nội đang hát ở Vũng Tàu. Cuộc gặp gỡ đêm ấy bên bờ biển, NSND Thu Hiền đã cầm bản nhạc hát cho mọi người nghe và chị nói vui “Anh cho Thu Hiền độc quyền bài này nhé”. Sau đó Thu Hiền thu thanh ở Sài Gòn và lấy tên Allbum là “Khúc hát sông quê”.
Khi trở lại Hà Nội, tôi đưa bài này cho VTV và chọn giọng hát Anh Thơ. Tôi có nghe Anh Thơ hát vài lần và nghĩ, giọng Anh Thơ sẽ hợp với bài hát này, sự trong sáng và chuẩn mực sẽ làm cho bài hát đẹp hơn. Tôi đem bản nhạc đến nhà cho Anh Thơ. Anh Thơ đang nấu bếp, phục vụ ông bố chồng bị ốm, nhưng cũng dành chút thời gian xem bản nhạc và nghe tôi hát qua vài lần. Anh Thơ có vẻ thích thú, vừa nấu bếp vừa tập, và nhận lời thu tiếng, thu hình bài hát này. Khi thu thanh, Anh Thơ đã gần như thuộc bài hát. Chỉ thu vài lần là OK. Các kỹ thuật viên của đài vì quá thích nên đã “cóp” đĩa về nhà nghe, dù không được phép. Vài tuần sau đó, bài hát được giới thiệu lần đầu tiên trong chương trình Tác phẩm mới của VTV. Tôi không ngờ nó lại được công chúng yêu chuộng đến thế. Hầu như từ đó, ngày nào bài hát này cũng được hát nơi này nơi khác, rồi nó trở thành một “hội chứng” mang tên Khúc hát sông quê.
Cuối năm đó, Lê Huy Mậu được kết nạp vào hội Nhà Văn với số phiếu tuyệt đối. Thỉnh thoảng anh gọi điện cho tôi kêu khổ vì "Fan" mời bia rượu suốt ngày, nhiều hôm mệt lử. Rồi đến đại hội văn nghệ tỉnh, anh em bàu Mậu làm Chủ tịch hội, vì anh sở hữu sự nổi tiếng nhất Bà Rịa - Vũng Tàu. Lại có người Việt ở hải ngoại mê bài hát này muốn mời cả "Nhạc và Lời" ra nước ngoài chơi...
Tôi đến châu Âu, châu Mỹ lần nào cũng được nghe Việt kiều hát “Khúc hát sông quê” với thật nhiều thiện cảm. Có người vì quá yêu bài hát này mà sẵn sàng đưa tác giả đi đây đi đó quên cả việc riêng, khiến tôi không thể nào quên được.
Đời một người sáng tác, hạnh phúc là tác phẩm của mình được công chúng đón nhận và yêu thích. Nhưng hạnh phúc nhất với tôi là nó được người làng tôi tâm đắc, chia sẻ và tự hào. Vâng, làng quê, nơi cất dấu và hiến dâng cho ta bao tài sản tinh thần vô giá… Xin mãi mãi cảm tạ làng quê!...
Hà Nội, 12.2010
*
Bài thơ:
KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
Lê Huy Mậu
Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...
Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể, mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...
Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi.
lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng, ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...
Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu, thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...
Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...
Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...
(Trích trường ca THỜI GIAN KHẮC KHOẢI của nhà thơ Lê Huy Mậu)

lăng mộ đá toyota thanh hóa