Hội Đình

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng

Hôm qua tôi đi hội đình
Thành Hoàng mới biết là mình rất thiêng...

Con gái



Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
Con gái như trái cau non
Thương cha quý mẹ hỏi còn gì hơn ?

Con trai như cái cột nhà
Giữ gìn tổ ấm vào ra hàng ngày.

Mẹ cha gắn bó
Vì có các con
Trăng già cho đến trăng non
Bỏ qua tất cả để còn vẹn nguyên...

Quê hương


Quê hương là chiếc cầu ao
Khóm tre bụi mía ngọt ngào
Nương dâu xanh bờ vườn trước
Rặng dừa ngọt nước vườn sau.

Quê hương gốc bưởi dàn bầu
Khế ngọt ổi thơm táo chín
Tắm sông trưa hè mát lịm
Chiều nghe vang tiếng sáo diều.

Quê hương những rơm cùng rạ
Phơi khô mẹ gánh về nhà
Đàn gà bới tìm hạt sót
Kiến vàng kéo xác sâu ma.

Quê hương củ khoai củ sắn
Lạc xuân thu hoạch trắng đồng
Vườn rau ruộng ngô xanh mắt
Mùa về hạt đỏ nặng bông.

Quê hương là mùa hoa cải
Tết về thơm mãi hương trầm
Xóm thôn đón mùa xuân mới
Ngọt ngào tiếng hát thơ ngân.

Quê hương đánh chuyền đánh chắt
Chơi khăng đá bóng sân đình
Trẻ em áo màu xanh đỏ
Đêm rằm trăng sáng lung linh...

Yêu quê em chăm học hành
Mai này trở thành nhà giáo
Dìu dắt đàn em yêu dấu
Quê mình rộn tiếng chim ca...

Gặp lại

Hai người gặp lại giữa mùa xuân
Mây trắng nhẹ đưa đã bao lần
Thấm thoát mấy chục năm có lẻ
Đôi bờ lại nối bến Sông Ngân.

Nhớ thuở ban đầu em với tôi
Giữa trời sao sáng cạnh đường vui
Tay muốn cầm tay nào đâu giám
Đã ngỏ lời yêu giữa đất trời.

Em trả lời tôi bằng im lặng
Tôi nghĩ tình xuân chẳng đến mình
Trao tình đơn sơ trong đêm vắng
Sao tìm chẳng thấy mộng lung linh?...

Thế rồi năm tháng cũng qua mau
Tóc đã pha sương mắt đổi màu
Thời gian như để bù qua lại
Hạnh phúc mỗi người chúa đã trao.

Gặp gỡ lại nhau sau nỗi đau
Người thân em mới vội qua cầu
Em đã ôm tôi trong hoài niệm
Ôn lại một thời ta bên nhau...

Một trăm ngàn lượt xem trang

Thưa bạn đọc.

   Sau 3 năm Thi Đàn VN mở giúp trang thơ cá nhân cho tôi, đến hôm nay 22/ 3/ 2017 đã có trên 100.200 lượt người mở xem trang. Trên 10 vạn lượt người là con số thật quý giá vì đã được đông đảo bạn bè khắp nơi quan tâm và ủng hộ. Cám ơn các bạn đã xem Trang thơ Nguyễn Quang Huệ và mong rằng các bạn tiếp tục dành sự ưu ái hơn nữa cho Blog này.
   Kính chúc các bạn và gia đình mạnh khỏe, tràn đầy hạnh phúc.
   Tôi có mấy vần thơ nhân sự kiện này cám ơn các bạn:

MỘT TRĂM NGÀN LƯỢT...

Một trăm ngàn lượt xem trang
Đó là con số ngỡ ngàng hôm nay
Ba năm sau lập trang này
Trăn ngàn lượt khách giãi bày niềm vui.

Bạn vào trang của thơ tôi
Chân thành gửi bạn với lời cám ơn
Mong sao thơ nối tâm hồn
Chiếc cầu tôi- bạn sẽ luôn đồng hành
Vần thơ hay, dở đã đành
Tình người ở lại kết thành vườn hoa
Giữa đời ta lại có ta
Cùng chung yêu thích thơ ca ngọt ngào...

Đừng hiểu lầm

Tác giả Hương Quê.

   Thưa bạn đọc.
   Tôi xin phép tác giả Hương Quê và nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho đăng bài này lên trang cá nhân của tôi để bạn bè tôi cùng đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là người hoạt động văn hóa có tiếng vì tài năng của anh, sự cuốn hút ít ai có được nên nhiều người khâm phục. Anh như một thỏi nam châm, dù đến đâu cũng thu hút được sự chú ý của nhiều người. Đối với tôi ngoài đồng hương Diễn Châu, anh và nhà thơ Đỗ Hàn (Chánh văn phòng Hội NVVN ) còn là người giới thiệu tôi gia nhập Hội  năm 2013. ( Hiện nay vẫn còn chờ đợi Hội xem xét , có thể vì số đơn còn quá nhiêu, vì tuổi cao hoặc lý do nào khác mà tôi không biết . Trước đó tôi đã là hội viên CLB thơ VN, Hội viên Thi đàn VN và Hội viên Diễn đàn Nghệ thuật VN)
   Xin giới thiệu với bạn đọc bài viết này để mọi người hiểu thêm về anh: Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

ĐỪNG HIỂU LẦM (phần 10)
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Chuyện anh hỏi con sông, “sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ”, thử hỏi có bao người nghe Anh Thơ hát bài Khúc Hát Sông Quê của anh mà không run lên từng thớ thịt; cho đến chuyện anh bảo “sông Hương hóa rượu ta đến uống/ ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say…” khi anh lâng lâng viết thế rồi hôm sau người ta đọc lại anh nghe và khen thơ ai mà hay thế, người ta bảo thơ anh làm anh mới biết, thử hỏi có ai từng nghe hay đã đến xứ Huế non nước hữu tình mà không ngấm men say?.
Tôi mê thơ anh, mê những ca khúc trữ tình của anh, đã ấp ủ nhiều lần muốn viết về anh Người Thơ Ham Chơi đáng kính trong tôi, nhiều lần gởi lời kết bạn với anh trên trang mạng xã hội nhưng quá ư người ngưỡng mộ kết bạn với anh từ lâu, tôi đâu đến lượt mình. Thế mà sáng nay, không biết cơn gió vô tình nào rung trang facebook của tôi, vừa lướt phây, tôi chỉ cần bấm vào nút xác nhận kết bạn và có được anh, thật là tuyệt vời. Thế là tôi chắp bút viết một mạch.
Các bạn đừng hiểu lầm là quá nhiều người viết về anh rồi thì tôi không cần viết nữa, đừng hiểu lầm là ca ngợi mặt trời sáng thì không cần viết mặt trời cũng vẫn sáng. Tôi biết viết gì đây, cứ bấm máy, cứ hí hoáy viết viết xóa xóa, những câu thơ hay của anh nó cứ bồng bềnh chợt đến chợt đi trong trí tưởng của tôi. Tôi tự hỏi, thế mình biết được bao nhiêu về anh mà đòi viết nhỉ. Các bạn đừng hiểu lầm, những gì các bạn biết về anh, tôi cũng biết nhé. Ngay bây giờ, tôi xin giới thiệu xem điều tôi biết về anh có giống như các bạn biết hay không.
Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ vẽ bìa sách Việt Nam; nguyên Trưởng ban biên tập báo Thơ thuộc Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) (2003-2004) và là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng dao cho người lớn, Nương Thân, Thế giới không còn trăng, Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc), những bài hát Làng Quan Họ quê tôi, Khúc hát sông quê, Đôi mắt đò ngang, tác giả Biểu tượng Ngày thơ Việt Nam, Cờ thơ.
Nguyễn Trọng Tạo sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947 trong một gia đình nho học ở làng Trường Khê, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trọng Tạo sáng tác bài thơ đầu tiên năm 14 tuổi, sáng tác bài hát đầu tiên năm 20 tuổi, xuất bản tập thơ đầu tiên. Đến nay anh nhận gần 30 giải văn học nghệ thuật. Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 của Ủy ban Toàn quốc các Hội VHNTVN cho ca khúc Đôi mắt đò ngang. 5 Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho các ca khúc: Mặt trời trong thành phố, 1983; Đường về Thạch Nham, 1984; Con dế buồn, 1997; Đồng Lộc Thông ru, 1998; Khúc hát sông quê, 2005…
Thơ của Nguyễn Trọng Tạo, có thể nói là nhiều như lá vàng mùa Thu nước Nga. Ở nước Nga, người ta tránh chạm vào cây mùa lá rụng, còn trong tâm trí Nguyễn Trọng Tạo, anh đã không ngừng chạm vào trí tưởng của mình để những bài thơ hay rụng rơi vào ba đào, nhân thế. Cũng có người nhăn nhó khi nói đến anh, nhưng anh nào rảnh mà bận tâm. Người ta gọi anh là “Người Ham Chơi lãng đãng giữa cõi đời cũng là để làm nhẹ bớt căn bệnh hay cau mặt của những kẻ thích tỏ ra nghiêm nghị”. Chẳng vậy mà, nhìn con đò anh thấy như con mắt của dòng sông, và Đôi Mắt Đò Ngang cũng xuất phát từ ý tưởng ấy rồi đi sâu vào tâm trí độc giả. Đọc thơ anh, tôi nghĩ đến gió cũng phải dỗi và ong hờn luôn đấy chứ. Nó cứ mơn man khiến say đắm lòng người.
Nhân đây tôi cũng có bài thơ tặng anh, vừa là đôi lời cảm xúc khi lạc vào hồn thơ anh, vừa là cảm ơn cuộc đời đã cho tôi thêm một người bạn tôi thầm mơ bấy lâu.
NGUYỄN TRỌNG TẠO
(Khoán thủ chiết tự)
NGƯ ỡng cửa trần gian để trí cày
Y ên bình bởi dạ hưởng chiều say
Ê m đềm câu hát dòng sông chảy
N hẹ nhõm lời thơ tiếng nhạc bày
TR ên bến dưới thuyền ru vẫy gọi
O ng hờn gió dỗi chạy vòng quay
NG ười Ham Chơi ấy đùa đâu nhỉ
TẠO nỗi mơn man khắp chốn này.
HQ, 20/3/2017
Nhà báo, nhà phê bình văn họcThụy Khuê có lần nói về Nguyễn Trọng Tạo: “Anh làm mới thơ, đôi khi bằng nhịp điệu khác thường trong thơ lục bát, bằng một từ đột xuất, một đảo ngữ chênh vênh, hay một hư từ đặt không đúng chỗ, hoặc bằng một hình ảnh không giống ai: "ta như sao lạc giữa ban ngày". Những câu thơ hay như thế bất chợt đến, bất chợt gặp trong thơ anh rất nhiều. Thơ anh thản nhiên, nhẹ nhàng và dễ dàng như những hình tượng đã có sẵn trên cây, anh chỉ việc rung cây là chúng rụng xuống Thơ anh. Nguyễn Trọng Tạo là một Người Thơ nghịch ngợm, thơ thẩn đi giữa dòng đời rồi bỗng dưng bị lạc. Anh chàng ấy thỉnh thoảng tung ra một vì sao để soi rạng Cõi Đi. Chúng ta may mắn nhặt được những Vì sao Lạc ấy, và thấy sáng lại lòng mình...” (Nguồn: Đồng dao cho người lớn. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1994, tái bản 1999”.
Hoàng Ngọc Hiến, nhà lý luận phê bình, nhà dịch giả văn học Việt Nam đương đại, nguyên hiệu trưởng Trưởng viết văn Nguyễn Du có lần nói: “Thơ của Nguyễn Trọng Tạo là thơ của những cái chớp mắt... Cảm hứng nhân văn của Nguyễn Trọng Tạo không hề dễ dãi, và, lấp lánh vô tận như những cái chớp mắt” (Nguồn: Đồng dao cho người lớn. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1994, tái bản 1999”.
Các bạn đừng hiểu lầm trong khuôn khổ bài này tôi có thể viết hết về anh. Tôi xin dừng tại đây và nhường lời cho các bạn. Tôi tin nhiều bạn yêu mến thơ anh có thể chia sẻ cảm xúc cùng tôi.
Trân trọng!

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Nói với con dâu

Thưa bạn đọc.

Bài thơ này tôi sáng tác khá lâu rồi, đã đăng lên tạp chí NGƯỜI XÂY DỰNG. Bạn bè tôi tâm sự bài thơ được đọc ở nhiều đám cưới ở địa phương. Được bà con tán thưởng và phải phô tô ra nhiều bản. Tôi vui vì thơ mình nói đúng với tình cảm các bà mẹ chồng khi có con dâu mới...
Tôi đăng lại bài này để mọi người cùng xem nhé.

Kết quả hình ảnh cho con dâu mới về nhà chồngNÓI VỚI CON DÂU

" Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha đón về "
Ngày xưa thủ tục nặng nề
Bây giờ đâu phải luật lề nữa đâu...

Từ nay bố mẹ có dâu
Việc nhà con hãy bắt đầu lo toan
Ước mơ có một dâu ngoan
Trong nhà trong họ quý hơn được tiền
Con trai đã có vợ hiền
Biết lo biết liệu mới yên cửa nhà.

Một lòng quý trọng mẹ cha
Dù là tiến sĩ vẫn là con dâu...

Nói với con rể

Thưa bạn đọc.

Kết quả hình ảnh cho con rể và mẹ vợNgày 12- 3- 2017 các cụ hưu trí X-2 Viện thiết kế Dân Dụng BXD đi giã ngoại ở Kỳ Sơn Xanh, Hòa Bình. Trong câu chuyện tâm tình các bạn khen bài thơ NÓI VỚI CON DÂU của tôi hay và đúng với hoàn cảnh của nhiều gia đình nên đã có người đọc xong vài lần là thuộc. Bạn Huỳnh Thi Thư có con rể, cháu ngoại cũng đã 6 tuổi xinh xắn. Bạn ấy đặt hàng tôi sáng tác một bài thơ NÓI VỚI CON RỂ. Không yêu cầu về thời gian hoàn thành mà chỉ cần thơ có nội dung tốt, ai cũng thích đọc.
Tối hôm đó khi đã về Hà Nội, tôi cầm bút suy nghĩ một lúc, bắt đầu viết. Sau chừng 1 tiếng, bài thơ hoàn thành, chỉnh sửa vài ba từ cho thích hợp và tôi đã gửi mail cho bạn.
Bài thơ viết vội chưa thành công lắm. Xin các bạn thông cảm.

NÓI VỚI CON RỂ

Mẹ vợ là mẹ của anh
Nếu không- sao có vợ xinh vợ hiền?
Cưới xin nào có nhiều tiền
Cơi trầu mâm cỗ nên duyên vợ chồng...

Mẹ lo nuôi nấng bế bồng
Lớn khôn mẹ chỉ cho không thôi mà
Mẹ vợ như mẹ bên nhà
Chăm cháu ngoại-  kém gì bà nội đâu?

Đã là con rể con dâu
Quý thương nội ngoại như nhau thật lòng
Dâu hiền rể thảo mẹ mong
Gia đình hạnh phúc là lòng mẹ vui...

....
....

Chớ xem bên nội là giời
Coi khinh bên ngoại nói lời khó nghe
Tình tan thiên hạ cười chê
Mo cau nón rách ra đê mà chờ...

Chị dâu

Các bạn thân mến.

Mấy người bạn lớp Thiết kế 11A  rủ nhau đi Hải Phòng thăm các bạn cùng lớp. Trong buổi gặp mặt thật cảm động, tâm sự hết mình vì đã gần 60 năm kỷ niệm ngày nhập trường. Bạn Vũ Đình Mai là một nhà thơ lâu năm tặng tôi bài CHỊ DÂU do anh là tác giả. Nhân ngày quốc tế phụ nữ 8 - 3, xin phép anh tôi đăng lại bài này lên trang cá nhân, chia sẻ với những người vợ chịu nhiều thiệt thòi do chiến tranh và sự hy sinh cao cả của các bà các chị thưở ấy. Chúng ta cố gắng giữ gìn hòa bình ổn định để không có cảnh đau thương như vậy, mong cho mọi phụ nữ được hưởng hạnh phúc vẹn tròn...



Kết quả hình ảnh cho vợ liệt sĩ
Ảnh minh họa internet.
         CHỊ DÂU
( Tác giả Vũ Đình Mai )

Hai người cùng một lớp
Anh chị yêu nhau như những thiên thần
Ngày đẹp trời pháo nổ ấm sân
Mẹ đón chị như trời cho riêng mẹ.

Anh đi như mọi người trai trẻ
Như rất nhiều người anh không về!...

Mẹ mỗi tuổi mỗi già
Chúng tôi mỗi ngày cần nhiều cơm gạo
Manh quần tấm áo
Âm thầm mình chị lo toan
Nắng mưa vất vả trăm đường
Chị vẫn đẹp như bông cải cúc...

Đêm đêm mẹ khóc
Trách trời ăn ở không công
Trăng tà còn quấn lấy song
Chị dâu tôi ở nhà chồng một thân
Ai buông ong bướm xa gần
Chi tôi cố bấu bàn chân xuống bùn
Khép mình con dế con giun
Ngày buồn đã vậy
Đêm buồn gấp hai!...

Mênh mông năm rộng tháng dài
Chị mong nhan sắc mau phai mau tàn
Người ta giữ đẹp giữ giòn
Chị tôi mong sớm mỏi mòn tấm thân!...

Thế rồi hè cũng thay xuân
Thế rồi trời cũng dần dần vào thu
Người ta vượt biển băng hồ
Chị tôi ép xác đi tu một mình
Mấy mươi năm ấy tội tình
Chị tôi rũ hết tươi xinh một thời!...

À ơi
Gió đưa bông cải về trời
Con tôi bay giữa những lời bác ru...













Dân cá gỗ

Kết quả hình ảnh cho dân cá gỗThưa bạn đọc.

Sáng 26/ 2/ 2017 tôi đi họp đồng hương Nghệ Tĩnh ( gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ) ở Hà Nội, gặp mặt đầu xuân Đinh Dậu. Người cùng quê gặp nhau tay bắt mặt mừng, vậy nhưng có khi không biết tên và quê quán ở xã huyện nào vì quá rộng lớn, người đông và gồm nhiều lứa tuổi, ngành nghề khác nhau. Nhận ra nhau vì tiếng nói trọ trẹ hoặc cử chỉ thân tình gần gũi, thật lòng. Người quê khác vẫn nói quê tôi là dân cá gỗ, chúng tôi cũng chẳng bận tâm lắm, có khi tự hào vì nghèo mà chăm chỉ học hành thành đạt. Câu chuyện một thầy giáo quê tôi đi dạy học ở một tỉnh xứ Bắc muốn yêu con gái ông chủ nhà. Cô gái đong đưa đôi mắt ý chừng: " Bên trong như đã mặt ngoài còn e..." và ông bà cũng mang máng nhận ra tình cảm của đôi trẻ. Nhưng ông cụ kiên quyết phản đối và nói rằng: con gái tôi không thể lấy anh được vì anh là DÂN CÁ GỖ. Quê vừa nghèo vừa khổ. Lấy anh, con gái tôi làm sao chịu được...
Trong tiết mục Văn nghệ, ngoài hát dân ca ví dặm và ngâm thơ, anh phó chủ nhiêm ban liên lạc hội đồng hương đọc bài thơ DÂN CÁ GỖ của tác giả Văn Thanh. Đọc xong mọi người vỗ tay nhiệt tình hưởng ứng và khen bài thơ hay quá. Ai cũng xin 1 bản. Thế là phải phô tô trên 100 bản mỗi người được nhận 1 làm quà.
Tôi không chắc tác giả Văn Thanh có đúng là người thầy giáo trên hay không nhưng thơ hay, không  đọc một mình,. Tôi xin phép các bạn và tác giả đăng bài lên đây để mọi người cùng đọc...

DÂN CÁ GỖ
Thơ Văn Thanh

Chẳng dấu chi em anh là dân cá gỗ
Củ khoai hà cho chó nó nỏ ăn
Nhút Thanh Chương và tương Nam Đàn
Quả cà Nghệ suốt ba đời con khát nước
Ngọn gió Lào, áo quần cha rách mướp
Mệ lẩy Kiều, ru anh ngủ thâu trưa.

Dân quê choa không phải dân vừa
Đói thì đói, chưa bao giờ thiếu chữ
Không quỳ gối, trước cường quyền bạo chúa
Dẫu chém đầu vẫn đứng thẳng đọc thơ
Tính gàn gàn, đồ Nghệ ngày xưa
Em thông cảm anh từ từ sẽ sửa.

Nếu ông trời xe duyên hai đứa
Em có về tắm nước sông Lam?
Con sông xanh thuở bé anh kéo thuyền
Toạc vai áo, treo vầng trăng lội ngược

Anh đưa em về thăm đình Võ Liệt
Mở trang vàng, bia đá những danh nhân
Quả trám, chua me kho cá lá gừng
Ăn một bận suốt đời không quên được.

Lớp trẻ quê anh bây giờ hơn trước
Toan tính làm giàu chẳng chịu thua ai
Sang tận Đông Âu mua đất, bán trời
Thống lĩnh thương trường, làm vương làm soái
Mánh buôn lậu vô cùng hiện đại
Biết cách đánh hàng, quá cảnh như chơi
Xứ quạt mo lắm tật nhiều tài
Em yên chí, họ thương người đáo để.

Bao kẻ sĩ lừng danh xứ Nghệ
Gái Hà Thành chịu cắp nón đi theo
Anh sinh ra trên mảnh đất nghèo
Không sợ khổ sống đời giản dị
Nếu mai này em làm dâu xứ Nghệ
Sẽ quen dần tiếng trọ trẹ quê anh

Có giận ai quyết chẳng để dành
Tính bộc trực nhiều người ưa nói thẳng
Nói xong rồi cõi lòng thanh thản
Gặp lại cười, gần gũi nhau hơn
Bố mẹ anh chân chất nhu hiền
Quý con dâu như là con đẻ
Gái Bắc Kỳ nói năng nhỏ nhẹ
Khéo chiều lòng ai mà chẳng thương em
Em hãy về làm dâu quê anh...



Cây vối vườn nhà

Kết quả hình ảnh cho cây nụ vối

 Vối quê trồng ở vườn nhà
Cành dài thân thẳng mượt mà lá xanh
Nước mưa trong bể ngọt lành
Đun sôi ủ chín mời anh mời nàng.

Vối quê thơm thảo nhẹ nhàng
Gặp nhau thì tạt tắt sang lối này
Dăm câu chào hỏi mà say
Làm duyên lấy cớ ngày ngày em qua.

Vối xanh tình thắm hai nhà
Đầu xuân bát nước đậm đà chốn quê...

Mình mua tên mình

Thưa bạn đọc.

Kết quả hình ảnh cho Chùa bái đínhỞ chùa Bái Đính có nhiều ô nhỏ gắn vào tường nhà chùa và các hành lang đi bộ, nơi mà các tượng Phật hội tụ thành hàng dài. Trong mỗi ô có tượng Phật Bà mầu vàng ngồi trên tòa sen cao khoảng 20cm. Phật tử hoặc cá nhân nào công đức 10 triệu đồng được ghi tên vào băng giấy dán vào cửa của một ô như vậy. Các ô được gắn từ cao xuống thấp, nhìn vào bức tường chùa mới như bầu trời có muôn vì sao lấp lánh, không thể tìm thấy tên của mình. Tôi có mấy vần thơ như sau:

Tên mình ai cũng biết
Họ mình ai cũng hay
Thế mà muốn vào đây
Mười triệu đồng trao gửi.

Cứ mỗi ô một giải
Giấy viết tên họ mình
Có Phật đài chứng minh
Ngồi ngay trong ô nhỏ.

Người tằng thấp trông rõ
Người mãi tít trên cao
Như bầu trời ngàn sao
Muốn đọc tên đâu dễ.

Thành tâm thì có thể
Nhưng mình mua tên mình
Giá ghi vào sách quý
Dễ tìm lại văn minh...


Nhà thơ Vương Trọng trong khu tưởng niêm về Tây tiến

Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Quang Dũng viết về chiến dịch Tây Tiến cách đây đã 70 năm. Là chiến dịch kéo dài nhiều tháng trời, diễn ra trên một vùng đất rộng lớn của Tây Bắc nước ta và nước bạn Lào với biết bao sự gian khổ hy sinh của người lính, đồng thời, tác giả là người trong cuộc cũng từng được thưởng ngoạn nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên cũng như con người trên những vùng đất đã đi qua.
Bởi vậy trong ký ức nhà thơ đã ghi đậm bao địa danh, và có lẽ, đây là một trong những bài thơ xuất hiện nhiều địa danh. Đó là Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát. Mai Châu, Pha Luông, Mường Hịch, Viên Chăn, Sầm Nứa…Mỗi địa danh gắn với một kỷ niệm. Nhưng phần lớn mỗi địa danh chỉ được nêu trong một hay hai dòng, riêng Mộc Châu chiếm trọn một khổ thơ:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Đọc khổ thơ ai cũng thấy sự hoang vắng heo hút của Mộc Châu ngày đó, nhưng không chỉ có lau rừng phơ phất triền núi, con người trên chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé trước dòng nước lũ hung hãn của sông Đà, mà cạnh dòng nước ấy còn có “hoa đung đưa”, nghĩa là mắt tác giả không hề bỏ qua cảnh đẹp tự nhiên của nơi này.
Khi nói về cái hay của “Tây Tiến”, người ta thường trích những câu như: Heo hút cồn mây súng ngửi trời , hoặc: Mai Châu mùa em thơm nếp xôi; hay: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Vâng, đó là những câu thơ thật hay, càng đọc, càng ngẫm càng hay. Với tôi, có một chữ trong bài thơ này khi nói về Mộc Châu mà mỗi lần đọc tôi đều dừng lại và ngẫm nghĩ. Đó là chữ hồn trong hồn lau của câu thơ:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.
Chữ “sương”của câu thứ nhất dồn cho câu thơ thêm ý, tách tác giả ra khỏi các nhà thơ bình thường (vì nhà thơ bình thường dễ viết : Người đi Châu Mộc chiều hôm ấy lắm!) thì chữ “hồn” ở câu thứ hai nâng vị thế nhà thơ lên một bậc. Nghe nói nhà thơ Huy Cận đã qua mười bảy lần chọn lựa mới có được chữ “củi” trong Củi một cành khô lạc mấy dòng; thì Quang Dũng chắc chẳng dễ dàng gì mà có được chữ hồn đầy hồn vía ấy. Phải chăng tác giả từng cân nhắc: Bông lau hoặc hoa lau ư? Chỉ thông tấn đơn thuần chứ không chở được nỗi niềm gì. Trong thơ, tả cảnh chẳng qua là tả tình, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ là vậy. Cờ lau ư? Hoàn toàn không hợp với tâm trạng có phần heo hút của người viết, hơn nữa đây có phải nói cảnh Ninh Bình đâu mà nhắc tới cờ lau tập trận? Ngàn lau thì nói được số nhiều nhưng không đúng với cảnh tây bắc đồi núi, bến bờ thoắt ẩn, thoắt hiện thuở ấy. Tôi tin rằng trước khi hồn lau bật dậy, tác giả đã gặp Vi lô san sát hơi may trong Truyện Kiều.
Khổ thơ trên tác giả trực tiếp nhắc đến hai chữ Châu Mộc, còn một một địa danh nữa cũng thuộc Mộc Châu, đó là Pha Luông. Theo tiếng Thái, Pha Luông có nghĩa là bức thành lớn, bức vách lớn. Ngọn núi này của Mộc Châu cao gần 2000 mét , nằm sát biên giới Việt Lào mà đoàn quân Tây Tiến đã từng qua đây:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Chắc là tác giả dừng lại trên vách cao của Pha Luông mà phóng tầm mắt nhìn về làng bản ẩn hiện trong mưa mù ở tít tắp xa…
Mộc Châu chiếm một vị trí quan trọng trong chiến dịch và ký ức Tây Tiến. Những người từng tham gia Tây Tiến cũng như các thế hệ lớn lên sau này đều biết vậy nên khi có ý tưởng xây dựng Khu tưởng niệm Tây Tiến thì mọi người đều thống nhất chọn địa điểm là thị trấn Mộc Châu. Và đúng hẹn, tháng 8 năm 2016 vừa qua khu tưởng niệm này đã được khánh thành. Thế là du khách đến Mộc Châu, ngoài những đồi chè xanh bạt ngàn, đàn bò sữa đủng đỉnh trên bãi cỏ, những trang trại rau quả sạch dân Thủ đô từng quen tên, đỉnh Pha Luông mơ màng trong mây, thác Dải Yếm trữ tình và huyền thoại… thì nay có thêm một điểm đến mới khiến du khách rưng rưng cảm động vì biết được sự gian khổ, hy sinh một thời. Khu tưởng niệm này có hai phần: phần một là Nhà Truyền thống trung đoàn 52 Tây Tiến, chứa đựng nhiều hình ảnh và hiện vật, trong đó có tượng bán thân của nhà thơ Quang Dũng đặt cạnh bài thơ Tây Tiến. Phần thứ hai là tượng đài, phần chính khu tưởng niệm Tây Tiến. Nhà điêu khắc đã dựa vào cảm hứng khi đọc bài thơ Tây Tiến để thiết kế khu tượng đài này. Đường lên tượng đài là những lối dốc, chạy dích dắc …gợi nhớ “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”. Hai bên lối dốc mọc lên những cây hoàng lan, một loại hương quen thuộc của Hà Nội, muốn nói rằng, trong đoàn quân Tây Tiến có rất nhiều chàng trai Thủ đô mà Quang Dũng là một ví dụ, và trong cuộc hành quân dài dằng dặc đó, có những “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Hồn lau Mộc Châu trong thơ ngày ấy cũng đã hiện hình phơ phất cùng với ngôi tháp tượng trưng cho đất nước Lào. Trung tâm khu tưởng niệm là nhà thờ các liệt sĩ Tây Tiến. Điều đáng nói là mái nhà này được cách điệu bốn khẩu súng chụm đầu lại,vừa nói tình đồng đội chiến đấu gắn bó, đồng thời gợi lên “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Phần cuối là Khải hoàn môn…
Tôi đã từng thuộc lòng bài thơ Tây Tiến từ nhỏ, đã nhiều lần bình bài thơ này trên báo chí cũng như trước bạn đọc…nhưng chưa bao giờ tôi xúc động như khi lần bước trong khu trưởng niệm này và nghe giọng đọc nghẹn ngào của cô gái người Thái thuyết minh. Bạn đọc trẻ tuổi sinh ra khi cuộc chiến tranh đã lui rất xa, vào thăm khu tưởng niệm này, biết được sự hy sinh to lớn của thế hệ cha anh và cái giá dân tộc ta phải trả cho độc lập tự do.
Lên Mộc Châu lần này tôi nhận ra rằng, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng không chỉ làm sống lại chiến dịch Tây Tiến trong lòng bạn đọc qua sách báo, mà chính từ bài thơ đó, chúng ta có được một khu tưởng niệm đầy ý nghĩa và xúc động. Và chính khu tưởng niệm này, thêm một lần nữa thể hiện sự gắn bó của Mộc Châu với Tây Tiến.
Trại viết Mộc Châu, 25-10-2016
Vương Trọng
ẢNH: Tượng nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến trong phòng truyền thống của Trung đoàn 52 Tây Tiến. Nhà thơ Vương Trọng trước ban thờ trong khu Tưởng niệm Tây Tiến ở Mộc Châu.

Tượng Nhà thơ Quang Dũng
Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời
Bàn thờ các chiến sĩ Tây tiến tại khu tưởng niệm .


                                                               










Thăm bạn

Thưa các bạn.

Ngày 20 - 2 - 2017 mấy người bạn thân chúng tôi rủ nhau đi giã ngoại ở Đền Sóc và khu du lịch Đại Lải Vĩnh Phúc. Nhớ người bạn trước đây là ông Trần Quốc Ý cùng ở viện Thiết kế Dân Dụng, sau khi hoàn thành XD lăng Bác đã được điều động  về Liên Hợp tấm lớn số II Bộ XD ở Xuân Hòa. Nghĩ nghỉ ở đây mà không tìm gặp bạn thì có lỗi với bạn nên chúng tôi hỏi thăm và được người quen dẫn đến tận nhà. Mừng vui khôn xiết tôi có mấy vần thơ sáng tác kịp thời tặng ông:


Mở cổng ra nào ông Ý ơi
Chúng tôi Hà Nội đến đây rồi
Trên bốn mươi năm xa có lẻ
Tìm gặp được người tưởng đứt hơi

Nào ông còn nhớ tên chúng tôi?
Tay bắt mặt vui mắt rạng ngời
Đọc tên từng người kèm cả họ
Cảm động thân tình tuổi tám mươi.

Nhà ngói năm gian tràn ánh sáng
Bàn ghế hạng sang thảnh thơi ngồi
Chuyện trò rôm rả như pháo nổ
Xem ảnh lớp xưa rõ từng người.

Vườn rộng rau xanh hoa quả sẵn
Định cư cố định lưng chừng đồi
Lối vào rộng rãi ô tô đến
Thật tuyệt ông ơi với chúng tôi.

Ông khỏe bà vui ai sánh được
Bốn con gái lớn trưởng thành mau
Giờ chỉ ước ao không bệnh tật
Cuối đời như thế khỏi sang giàu...

Tiễn con

( Viết theo lời  Nguyễn Minh Phương
tiễn con gái Thảo Linh đi học cao học ở Úc )

Con xách ba lô lên đường

Nhà vắng hẳn tiếng con ríu rít

Nhớ con lắm chỉ mới ra ngoài tết

Nay đã xa hàng ngàn dặm cuối trời

Mấy đứa em quấn quýt cứ ngậm ngùi

Ghìm nước mắt để khóc không thành tiếng

Hai hai năm nuôi chăm và thương mến

Nay đành buông để con tự vẫy vùng

Dãu xa vời và con có nhớ nhung

Phải mạnh dạn bước đi để học thêm kiến thức

Chúc con lên đường bình yên và tràn đầy nghị lực

Đợi ngày về mẹ mong mỏi gặp con...


lăng mộ đá toyota thanh hóa