Chuyện đời thường của cha tôi

Thưa bạn đọc.

Đáng ra bài này tôi đăng hôm qua 18 tháng 6, "Ngày của cha", nhưng hôm nay tôi mới đưa lên vì nghĩ rằng ngày ấy rất nhiều bạn viết về Phụ thân của mình. Hôm nay ít người có bài về đấng sinh thành là đúng rồi. Bao giờ cũng vậy, như người đi đường, chậm một chút nhất định vắng khách hơn, đường ít người đi lại tha hồ tung tẩy. Hôm nay tôi xin post  lên đây vài ba câu chuyện đời thường của cha tôi, mong được sự chia sẻ của các bạn.

       I-  Câu chuyện thứ nhất: Chữa chó cắn

      Đang cuốc cỏ lúa ngoài vườn, có một người họ hàng xa mang đến một thẻ hương đen đã đốt sẵn đến nhà gọi cụ: Ông ơi, Cháu bị chó cắn, nhờ ông quản giúp cháu với. Thế là thầy tôi vác cuốc vào nhà, rửa tay chân sạch sẽ, và nói với họ, đưa vết cắn ông xem nào? Quan sát sơ bộ xong, cụ cầm thẻ hương vái mấy vái lên bàn thờ gia tiên và đọc lầm rầm điều gì đó mà tôi nghe không rõ. Tiếp đến cụ cầm thẻ hương quơ đi quơ lại như viết những chữ nho gì đó trước vết thương, đọc mấy câu thần chú xong cụ trả hương và dặn về nhà giữ gìn sạch sẽ, đừng để nước ao hồ sông ngòi dây vào thì 3 hôm sau sẽ lành.
       Chuyện ấy xẩy ra cứ dăm ba ngày lại có một người trong làng trong xã mang hương đến nhờ cụ giúp, không bao giờ lấy tiền hoặc mong trả ơn vì theo cụ đó là việc làm có đức, chẳng mất công mất cán gì cho nên cần giúp mọi người, âu cũng là làm phúc cho người ta vậy...
        Tôi là người chứng kiến nhiều lần như thế. Mùa hè cũng như mùa đông đều có khách, nhưng mùa hè thì nhiều hơn. Có một lần tôi hỏi cụ: Thầy có bí quyết gì không mà được mọi người tin tưởng như vậy? Cụ nói: Thầy làm theo Ông Nội các con thôi, bản thân thầy không biết có phép thuật hay thần bí gì cả.
        Tôi không tin những điều dị đoan như vậy nên khuyên cụ hạn chế việc này vì nhỡ chó dại cắn thì không thể cứu người ta được mà ngược lại làm họ chết oan một cách đau đớn.
        Cụ nói với tôi: Thầy biết. Trước khi giúp bao giờ thầy cũng xem xét vết thương xem có sâu không, chảy máu nhiều hay ít, nhiều răng hay ít răng? Hỏi qua con chó nhà ai? Tình trạng chó ốm hay khỏe? có bỏ ăn trước khi cắn hay không? Chó có hay trốn trong bóng tối không?... Nếu các yếu tố đó được loại trừ thì chắc chắn không phải chó dại. Tôi nghe vậy thấy yên tâm vì không phải cụ thực hiện một cách mù quáng mà căn cứ vào những hiện thực khoa học. Nếu thế, cụ thông minh thật. Mấy chục năm cứu người không xẩy ra điều gì, cụ thật đáng nể.
        Tôi nghĩ cụ không phải là thầy thuốc nhưng tấm lòng với mọi người xứng đáng như một lương y cao cả…
….
….

          Câu chuyện thứ 2: Đôi săng đan quai da đế krêp:

        Mùa hè năm 1952 anh Bình tôi xung phong nhập ngũ tân binh khóa 4. Cùng đợt ấy có 4 người trong làng là ông Nguyễn Do, ông Hoàng Đề, ông Trình Thu và ông Nguyễn Bình. Thanh niên 20 tuổi lên đường ra trận là điều vinh dự cho dân làng và gia đình. Năm đó tôi hơn 10 tuổi, anh em xa nhau biết bao bịn rịn vì chẳng có gì làm quà cho anh. Nhưng người buồn nhất, trăn trở nhất là thầy mẹ tôi.
        Anh tôi đi chỉ mang theo hai bộ quần áo thường ngày vẫn mặc, xếp gọn trong túi vải nhỏ cắp bên mình. Mũ nón không, đi chân đất, vội vàng tập trung ở đình Đào Viên lúc 4 giờ chiều, chưa kịp ăn một bữa cơm chia tay. Tám giờ tối hôm ấy tân binh hành quân qua làng Đông Phái, cách làng tôi một cánh ngô, một cánh lúa. Tiếng hò lơ ớ lơ hò lờ…vang vọng sang làng mình nghe rõ mồn một vì gió Đông Nam xuôi chiều. Đoàn quân vui vẻ lên đường. Mẹ tôi nước mắt ngắn dài vì thương con vất vả, hàng ngày vẫn đi lên phố huyện phía trên Cầu Bà, qua sông Yên Sở, gánh đỡ hàng cho mẹ . Bà buôn bán lặt vặt mỗi thứ một ít: vài chục củ gừng, mươi quả tai chua, chục quả dứa, một mớ nghệ, dăm chục quả muỗm và thanh trà. Mua từ chợ Dinh, Chợ Mõ đem về chợ Chùa bán lẻ. Vậy mà bây giờ con đi, ai là người sẽ giúp mẹ?!..
        Thầy tôi cứ yên lặng trầm tư. Anh Thái đã nhập ngũ cách đó 4 năm gửi thư về đang đóng quân ở Thanh Hóa rồi ra Ninh Bình. Tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh…
Sáng hôm sau thầy tôi mang ra chợ Chùa 1,5 kg bông xơ để bán, lấy tiền mua một đôi săng đan quai da, đế krep và nhờ chị dâu ( Chị Ngô thị Nhâm vợ anh Thái ) mang đi tìm chỗ đóng quân gửi cho em. Cụ chỉ nói hình như họ đóng quân ở vùng chợ Rộc huyện Yên Thành, cách nhà quãng 15 cây số gì đó. Hôm sau chị tôi khăn gói đi bộ lên đường sớm vì trời mùa hè nóng bức, cơm đùm cơm nắm, mang theo đôi dép quý. Chiều tối muộn chị tôi về, mang về bao thất vọng và mệt mỏi, mặt đỏ phừng phừng, lấm láp mồ hôi, ngồi phịch xuống thềm nhà, không quên đưa lại đôi dép mà thầy tôi hy vọng anh Bình sẽ nhận được. Thầy mẹ tôi thương con trai bao nhiêu giờ lại thương con dâu bấy nhiêu và nói với chị: Thôi được rồi, vào nhà nghỉ ngơi, tắm giặt xong ăn cơm với thầy mẹ và các em. Chị đã vất vả vì em mà không trọn.
        Cụ để đôi dép đó mấy tháng chờ anh tôi về mang đi nhưng càng chờ càng vắng. Về sau bán lại cho một người trong làng vì đó là tài sản lớn của thầy mẹ tôi lúc bấy giờ…
        Cảnh chia tay người con đi chiến đấu biết bao điều xấu tốt đang chực chờ, đơn giản như vậy. Thầy mẹ tôi chưa kịp dặn giò điều gì mà anh cứ vội vã như người đi làm đồng. Cảnh ấy diễn ra ở hầu hết các gia đình đều thế. Sau này thực hiện nghĩa vụ quân sự thì được chuẩn bị đàng hoàng hơn, ấm áp, tình cảm hơn…
        Kết thúc chiến tranh chống Pháp anh Thái tôi là Đại úy được ra quân năm 1956. Chuyển ngành về làm cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống công ty thực phẩm Nghệ An ở thành phố Vinh.
        Anh Bình được cử đi học tại Học viện Hậu cần Quân đội. Kết thúc khóa học được phong thượng úy, chủ nhiệm hậu cần, Phó Giám đốc Quân y viện 6, Quân Khu II ở Sơn La. Mấy năm sau làm cố vấn quân sự cho quân đội Lào ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Nậm Bạc. Lúc nghỉ hưu là Thiếu tá quân đội. Anh quyết định đưa cả gia đình về quê, xây dựng cuộc sống mới.
        Em Nguyễn Minh Châu nhập ngũ năm 1961 là sĩ quan thông tin quân khu 4. Địa bàn hoạt động nơi túi bom của giặc Mỹ. Đó là chiến trường Bình Trị Thiên. Sau giải phóng miền Nam đến năm 1977 được ra quân chuyển về Công ty Bưu điện Hà Nội.
        Điều đặc biệt ba anh em của tôi vào lính, xông pha trận mạc ác liệt nơi mưa bom bão đạn nhưng khi kết thúc chiến tranh không ai thương tổn gì, gia đình tôi lại sum họp trong niềm vui hạnh phúc và vô cùng may mắm…


   Câu chuyện thứ 3:  Nhà tôi có đạn trong nhà

         Mùa thu năm 1952 một đơn vị quân đội đóng quân ở làng tôi, hình như chuẩn bị cho một chiến dịch mới.
      Ba tuần ở lại với dân được dân làng che chở đùm bọc. Các anh học tập chính trị, luyện tập các thao tác quân sự, lăn lê bò toài, xung phong, ngắm bắn mục tiêu cố định, di động. Phá hàng rào thép gai, mở khẩu cho bộ đội tiến công. Các động tác thuần thục như biểu diễn võ thuật.
      Đến kỳ chuyển quân đi nơi khác, đơn vị đã bí mật hành quân vào ban đêm ít người biết. Xóm làng bàng hoàng vì sự trống vắng đột ngột của các anh. Dân quê tôi có truyền thống yêu mến bộ đội Cụ Hồ. Đúng là quân với dân như cá với nước. Tình cảm quân dân mỗi ngày một sâu đậm theo thời gian…
      Trước lúc ra đi, ban chỉ huy chỉ trao đổi với thầy tôi ý định gửi lại khoảng 100 kg đạn súng trường, hẹn lâu nhất là 1 tháng, đơn vị sẽ cử người về nhận lại. Thầy tôi nhận lời. Mấy chiến sĩ khênh đến nhà lúc nhá nhem tối và đưa ngay vào buồng, xếp gọn vào đáy tủ gỗ. Xong xuôi cụ khóa lại và giữ luôn chìa khóa, dặn chúng tôi không được lộ bí mật là trong nhà mình có đạn. Điều lo lắng nhất của cụ vì nhà lợp mái bằng tranh rạ, sợ mẹ tôi đun nấu không cẩn thận nên ông thường xuyên nhắc bà nấu xong tắt lửa, đem hết rơm rạ còn lại ra ngoài. Cụ còn tự tay dập bếp bằng nước đến khi tro than tắt hẳn mới yên tâm đi làm việc khác.
        Có lúc cụ mở tủ ra kiểm tra, tôi tò mò xem. Những băng đạn màu đồng thau, đầu đạn màu đồng đỏ sáng loáng dài khoảng 1 mét, cuộn xếp ngay ngắn như những vị thần linh ở trọ trong nhà mình, bảo vệ che chở cho nhà mình, không sợ ma tà trộm cắp quấy nhiễu. Tôi hơn 10 tuổi đã tưởng tượng ra những điều viển vông, trẻ con như vậy, sau ngày lớn lên nghĩ lại, thấy thật buồn cười…
        Hơn một tháng sau, đơn vị cử 4 người về lấy. Các anh ấy chỉ lấy đi những băng nguyên vẹn, còn 3 viên lẻ, một anh lính trẻ dúi vào túi cho tôi. Tôi mừng nhưng không biết để làm gì nhưng vẫn nhận. Tôi coi như của riêng nên cất giữ cẩn thận lắm…
      Đến dịp giáp tết, nghe tiếng pháo nổ đì đùng của bạn bè, tôi mang ra từng viên một tìm cách rút đầu đạn ra để lấy thuốc bên trong các tút. Tôi biết bên trong có thuốc đạn và có thể chia từng ít một thay cho thuốc pháo. Thuốc đạn màu đen, có tinh thể như mì chính cánh, óng ánh dưới ánh sáng mặt trời. Nếu dí que diêm, thuốc sẽ bắt cháy kèm theo tiềng xì và tia lửa xanh lè  rất đẹp. Mùi thuốc cháy vừa khét vừa thơm hấp dẫn khó quên….
        Mấy năm sau gia đình ông Hà (hàng xóm) làm nhà, thuê bác thợ mộc trong thôn gia công kèo, cột, xà, dầm. Tóm lại là khoán phần lắp dựng khung gỗ. Đang làm dở chừng, không biết bác ấy nhặt đâu được viên đạn súng trường trông hơi cũ, vì chung quanh đã chuyển màu xanh của rỉ đồng, lấm láp bùn đất. Tiện tay bác ấy cầm viên đạn hướng đầu đạn lên trời, thắp que hương đang có lửa than màu đỏ dí vào đáy viên đạn. Đạn nổ, người ngã , máu đầm đìa chảy xuống sân. Bàn tay cầm đạn cụt mất 3 ngón. Tay loang lổ vết thương, may quá không ai làm sao. Thế là việc làm nhà của chủ đành bỏ dở. Sau 2 tháng điều trị, băng bó, công việc mới tiếp tục trở lại. Chủ nhà thuê thêm người phụ với bác nên mấy tháng sau mới hoàn thành công trình…
      Nghĩ lại mấy năm trước, lúc lấy thuốc đạn ra khỏi các tút, tôi thấy sợ, vì không hề biết đáy viên đạn có một hạt nổ, nếu chạm mạnh hoặc tiếp xúc với nguồn nhiệt, kíp sẽ nổ, làm cháy thuốc bên trong và gây tai nạn không lường trước được hậu quả. Tôi chỉ biết lấy một quai dép cao su quấn đầu đạn xoay đi xoay lại, lấy con dao nhỏ vuốt sống dao xuống đuôi viên đạn một cách nhẹ nhàng, đầu đạn sẽ lỏng ra. Tôi chỉ xoay vài vòng nữa là lấy được thuốc. Công việc thành công cho cả 3 viên diễn ra bình thường. Tôi gói từng ít nột như hạt ngô với giấy Pơ luya mỏng và đợi đêm tối trời mới đem ra châm lửa.
      Đem câu chuyện nghịch ngợm ở lứa tuổi trẻ con kể lại, tôi mong một điều: lứa tuổi thiếu nhi tránh xa khi tiếp xúc với đạn bom.
      Tôi rất buồn khi nghe tin nơi này nơi khác vẫn có người cưa bom, cưa đạn để lấy thuốc và đã hứng chịu tai nạn thương tâm, có vụ chết hai ba người một lúc, tan xương nát thịt một cách thê thảm như vụ cưa bom ở khu đô thị Văn Quán quận Hà Đông. Có người què cụt, hỏng mắt và chịu cảnh thiệt mạng hoặc tàn tật suốt đời.

      Tất cả họ đều ít hiểu biết về bom đạn, làm những điều ngờ nghệch nên phải gánh chịu hậu quả đau đớn mà thôi…

Thơ Đỗ Anh Thư

LẠC MẤT MÙA XUÂN.
Lần đầu em gặp chàng
Trên dốc mù sương bay
Lần đầu Anh ngỡ ngàng
Trông má nàng hay hay
Chiều Xuân trên phố núi
Ngọt ngào hồng môi ai
Lòng Anh nghe tiếc nuối
Và yêu thương dâng đầy
Rồi ngày em gặp chàng
Trong tiếng đàn mê say
Và hồn em mơ màng
Đắm đuối chìm Thiên thai
Chàng về gieo luyến nhớ
Muộn phiền trong mắt ai
Nhìn bông Hoa Quỳnh nở
Thương từng đêm trôi dài
Bềnh bồng trong ký ức
Ngày nào vai sánh vai
Ngày niềm vui háo hức
Trên đầu hoa em cài
Mà giờ sao héo hắt
Vườn tình gió lắt lay
Mùa Xuân vừa đi mất
Gót hài son lạc loài.
ATĐ.
Thích
Bình luận

Nhân văn trong CỬA KHÉP HỜ

         ( Bài viết của Nhà thơ, Nhà báo Nguyễn Đức Trọng )

     Cửa khép hờ là tập thơ thứ mười của KS - Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ.

     Tôi thực sự bị cuốn hút, ám ảnh khi đọc tập thơ Cửa khép hờ. Có bài tôi đọc đi đọc lại hai ba lần. Vừa đọc vừa suy nghĩ ý tưởng của tiêu đề từng bài nghe là lạ mà rất thăng hoa, từng cụm từ như biết nói, từng lời thơ như có nhạc…
     Mấy trăm năm về trước, tổng kết sự nhọc nhằn của những người làm thơ, Nguyễn Công Trứ đã viết:

            Mười bài được một câu hay
            Nghìn bài được một đã may lắm rồi.

     Nhưng đọc Cửa khép hờ của Nguyễn Quang Huệ thì ngay bài đầu tiên đã có câu thơ hay, bài thứ hai có câu thơ hay, bài thứ ba cũng có câu thơ hay…đến bài cuối sách những câu thơ lại càng hay. Như vậy có thể nói hiện tượng thơ Nguyễn Quang Huệ đã “Phá cách”.
    Ta hãy xem tiêu đề tập thơ Cửa khép hờ đã có cái gì đó là lạ của thế thái nhân tình, đã bắt người đọc phải dừng hình, phải suy luận sự trải nghiệm của một độc giả.
    Bằng lối thơ lục bát hiền lành mà tươi ròng. Tác giả dựng lên một hoàn cảnh rất thực của một cô gái trẻ (vợ lính) mới cưới chồng, ở nhà một mình trong ngôi nhà lá ở bìa làng,  trong đêm thanh vắng:

           Nhà tre nằm cạnh bìa làng
           Vắng người qua lại trời đang tối dần
           Đêm về chỉ có hai thân
           Chủ nhà là vợ quân nhân xa nhà
           Bên kia khách trọ hào hoa
           Vừa sơ tán đến tháng qua mấy ngày…

     Nguyễn Quang Huệ đã dùng hình ảnh ví von đúng tâm trạng háo hức, hừng hực của người con gái ấy qua khổ thơ tài hoa:
             
              Chủ nhà như ruộng mới cày
              Đêm đêm khó ngủ thở dài chờ trông
              Cửa buồng để ngỏ bên hông
              Ngoài này khách cũng khó lòng ngủ ngon
              Bên trong rạo rực bồn chồn
              Thắp đèn vỗ muỗi mở luôn cửa buồng.
                                                    ( Cửa khép hờ )

     Thật là logic và tài tình. Nguyễn Quang Huệ đã vẽ lên một bức tranh rất thực có hai cảnh đối trọng nhau. Như muốn hòa tan một phập phồng, muốn òa lên tiếng lòng…Nhãn tiền trước cảnh éo le trên. Cánh đàn ông trẻ đang sung sức ai cũng muốn chiếm đoạt và hưởng thụ ngay:

              Hay liều một chút tang bồng
              Chủ nhà đỡ phải nằm không chờ tình.

      Nhưng lý trí và tấm lòng nhân văn cuả khách trọ đã thắng bản năng:

              Thôi nào đành phải lặng thinh
              Tự nhủ rằng mình chớ có lơ mơ
              Vợ người là gái còn tơ
              Nhưng là vợ lính xô bồ được chăng?
              Thôi thôi xin tạ chi Hằng 
              Tôi trai chưa vợ xin đừng trêu ngươi
              Dấn vô sợ mọi người cười
              Gây nên tai họa suốt đời ăn năn…

      Ở đây ta thấy tác giả dùng từ rất dân dã mà quá hay: ( Tang bồng – chớ có lơ mơtrêu ngươi ) để nhìn thấy rõ ( Gây nên tai họa suốt đời ăn năn )

      Từ Cửa khép hờ là tư tưởng chủ đạo của tính nhân văn trong toàn tập thơ 77 bài của ông, để từ đó ông nhìn đời, nhìn người, nhìn thiên nhiên với bút pháp nhân ái.
     Ngay từ bài đầu tiên của tập thơ, tác giả đã tả một cơn mưa độc đáo, với những ngôn từ rất mạnh, cứ bay vun vút, rất đắt (Vù vù, cơn say, cuồn cuộn, mịt mù ). Cơn say của gió, của mưa thật khủng khiếp.
 
              Vù vù gió nổi cơn say
              Mây đen cuồn cuộn bao vây bầu trời
              Mịt mù bụi cuốn khắp nơi…

      Để rồi Nguyễn Quang Huệ chốt lại một thi ảnh rất thơ:
                  
              Hàng cây ven lộ nghiêng trôi một chiều.

      Quả thực ông đã dùng cụm từ thăng hoa ( Nghiêng trôi một chiều ) làm nổi bật lên một cơn mưa to gió lớn như là phong ba bão táp. Đó là sự thành công thi pháp của Nguyễn Quang Huệ.
      Với lối thơ quan sát chi li, ngôn ngữ độc đáo, ông đã diễn tả cảnh vượt đèo thật gan dạ, thật lý thú:

              Một bên dốc đá cao vời
              Một bên vực thẳm in trời Sông Gâm
              Lưng chừng đá đổ ầm ầm
              Đương gập lại tiếp chồng mâm trên đèo.

      Cụm từ in trời Sông Gâm thật là đẹp. Chồng mâm rất hài hước.
      Còn đây với cách vừa hỏi vừa trả lời trong bài  “Lối ấy” tác giả đã cảm tác được những tình cảm thuận mà còn dang dở của cái ngày xưa:

              Lối ấy ngày xưa anh vẫn đi
              Quen từng góc phố đến hàng si
              Xuống dốc Ngọc Hà rồi rẽ phải
              Gõ cửa chạm tay tuổi dậy thì.

      Chao ôi cụm từ chạm tay tuổi dậy thì đẹp biết bao nhiêu. Là thi ảnh bắt người đọc phải dừng hình.
      Còn đây câu hỏi cứ dùng dằng giữa đối thoại mà chờ cái kết của người đọc:
 
              Ý mẹ vun vào em biết không?
              Anh vui như được sưởi ấm lòng
              Riêng em cũng vậy sao khác được
              Đố biết?...Anh ?...Ai muốn lấy chồng?...

     Và đây người lính của đội quân dũng mãnh trước kẻ thù, nhưng cũng rất thơ mộng với lời hẹn bạn gái làng. Ta hãy xem nhà thơ thể hiện trong bài “Mùa cốm mới”:

              Nắng chiều đã nhuộm vàng trên lá
              Gió đưa lay động cả thân cành
              Trời thu trong mắt ai xanh ngắt
              Cho lòng em gái mãi thương anh…

 Ra đi anh gửi bao kỷ niệm
Hẹn đến mùa sau lúc nắng vàng
Anh sẽ về quê làm cỗ cưới
Đúng mùa cốm mới đón em sang.

     Với những thi ảnh đẹp ( Nhuộm vàng trên lá – Trời thu trong mắt ai xanh ngắt ) Nguyễn Quang Huệ đã mang đến niềm tin chiến thắng trở về ( Anh sẽ về quê làm cỗ cưới )

    Đọc kỹ hiểu sâu với Cửa khép hờ mới thấy rõ Nhà thơ thiên về thế sự, mạnh ở câu chữ, có nhiều đột biến hấp dẫn ở chất lãng mạn và tinh tế níu giữ người đọc bằng tình cảm chân thật, đắm đuối. Cốt lõi của thơ ông  là tình cảm chân thành và sự chia sẻ mộc mạc. Chất hoài niệm được chuyển tải bằng thơ có nhạc, nhịp điệu uyển chuyển qua thi ảnh lộng lẫy, có khi là trừu tượng, đơn giản nhưng triết lí:
     
              Muốn vui yên ấm trọn đời
              Mỗi người phải sống chẳng vì tôi
              Vì cha vì mẹ vì con cái
              Vì lẽ nhân sinh ở cuộc đời…

     Còn đây trong bài “Vô tình” tác giả lại lý lẽ một trạng thái rất rõ ràng:

              Vô tình nhặt được tứ thơ
              Chỗ ương chỗ chín bây giờ làm sao?
              Nhớ khi đã có được nhau
              Đừng xem thơ nhặt là câu vô tình.

       Và đây Nguyễn Quang Huệ nhớ người xưa sâu nặng qua cụm từ rất hay:
Hết cả chiều mây bay”:

              Bóng hình em sâu nặng
              Hết cả chiều mây bay

      Mở rộng biên độ thơ của Nguyễn Quang Huệ để đến lúc bạn thơ giật mình khi đọc chiều sâu suy tưởng trước cuộc sống trải nghiệm của liên tưởng và tri ân. Để rồi Nguyễn Quang Huệ gặt hái được bài thơ rất thơ:  “Mùa gặt mới”

Nắng vàng
Đã trải khắp đồng
Cuối ngày tất bật
Thu bông lúa về.

Đường quê
Cuối vụ xuân hè
Thơm mùi cốm mới
Mà nghe mát lòng

Trên vai
Hai bó nếp rồng
Của cô em gái
Lưng ong dậy thì

Mồ hôi
Mặn chát bờ mi
Trả người mùa gặt
Mỗi khi gặp người…

      Tôi trân trọng chúc mừng những thành tựu thơ của Nguyễn Quang Huệ đã thành công trong Cửa khép hờ.
      Nói đến thành công của nhà thơ không thể không nhắc đến người vợ thân yêu của ông. Bà là người phụ nữ hiền thục, đảm đang mọi công việc gia đình, tạo điều kiện cho ông sáng tạo nghệ thuật, sống hết mình cho sự nghiệp của chồng của con.

     Chúc mừng thi sĩ của miền “Gió Lào, Nắng cháy”, của tiếng chuông chiều ngân vang nơi Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An tiếp tục khám phá và tỏa sáng trên cánh đồng thơ ngào ngạt đưa hương.

Hà Nội ngày 7 – 5 – 2017

Nhà thơ - Nhà báo Nguyễn Đức Trọng 
Giám đốc Trung tâm Văn học Nghệ thuật
Thăng Long Văn Hiến




Chuyện về cụ Chủ Tịch Xã Hạnh Viên đầu tiên sau c/m tháng 8/ 1945



Cụ Nguyễn Vấn ( 1900 - 1992 )
I -  Thời niên thiếu và trai trẻ:
     Thầy tôi sinh năm 1900 ở xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An. Những lúc rảnh rỗi ông thường kể lại chuyện xưa về cuộc đời mình cho tôi nghe. Sở dĩ như vậy vì tôi hay hỏi chuyện cũ của cụ. Tôi nhớ rất lâu những chuyện ấy bởi trí tò mò và muốn sưu tầm những câu chuyện về gia đình mình. So với mấy anh em sinh ra, tôi được thưa chuyện với thầy tôi nhiều nhất.
Thầy tôi kể: Ông Nội tôi là Cụ Nguyễn Thê có 3 đời vợ. Bà thứ nhất  không có con, cụ lấy bà thứ hai sinh được người con trai là ông Nguyễn Tơn ( bố ông Đàn, Ông Lĩnh ) Sau đó cụ lấy bà thứ 3 là Trình Thị Độ. Bà Độ sinh ra thầy tôi và chị gái là Nguyễn Thị Thức ( mẹ ông Căn, ông Do ). Gia đình ông nội tôi tuy không giàu có gì nhưng cũng thuộc loại gia thế trong làng nên mới được gọi là ông Trùm Nội. Lớn lên chừng 8 tuổi ông  nội cho thầy tôi học chữ nho, chữ nôm do nhà nho Hồ Tiếu dạy. Nhà nho Hồ Tiếu người làng Quỳnh Đôi phủ Quỳnh Lưu vào dạy học ở làng tôi, làm rể làng tôi và sinh ra ông Hồ Tuân. Cụ luôn động viên thầy tôi cố gắng học và chăm làm việc. Cụ Hồ Tiếu là người bà con họ hàng gần với cụ Hồ Tùng Mậu và hơn cụ Hồ Tùng Mậu mươi tuổi vì cùng quê, cùng họ Hồ. Ông Nội tôi cũng động viên cứ chăm làm chăm học, đến mùa cụ sẽ thưởng cho mỗi bữa một bát cơm úp ( hai bát cơm úp làm một như bát cơm cúng, ở quê tôi vẫn làm như vậy ). Điều đó chứng tỏ nhà ông nội cũng nghèo, không đủ ăn nên phần thưởng cũng chỉ là bát cơm đầy mà phải cố gắng học tâp, làm việc thì đến mùa mới có. Phận làm lẽ nên sau khi có con bà nội tôi được ông nội làm cho một cái nhà tranh nho nhỏ ở góc vườn cho 3 mẹ con ở riêng. Thầy tôi là người rất sáng dạ, học thông viết thạo, chữ rất đẹp nên ai cũng khen. Mười sáu tuổi thầy tôi mới học chữ quốc ngữ kết hợp học cả chữ nho, chữ nôm. Chữ viết khuôn thước, không viết láu viết ẩu nên thầy giáo thích lắm. Tuy tuổi trẻ nhưng trong làng ai có việc bán ruộng bán nhà, mua bán trâu bò hoặc tài sản gì quý giá đều mời thầy tôi viết văn khế giao ước. Thời đó ai biết chữ, làm được văn tự như thầy tôi là hiếm lắm. Mười chín tuổi gia đình cưới vợ ( là mẹ tôi ). Vốn là con quan lục lộ, bà cũng xinh gái, kém thầy tôi một tuổi, (quê ở làng Nhân Trai xã Diễn Xuân). Tuy vậy do ông ngoại tôi mất sớm lúc bà ngoại mới hơn hai mươi tuổi, một mình ở vậy nuôi 2 con gái nhỏ dại nên mẹ tôi cũng vất và từ khi còn bé, do đó khi về làm dâu, thầy mẹ tôi  không nhờ vả bên nội, bên ngoại được gì nhiều. Vì ruộng đất ít, quanh năm làm đủ thứ nghề như kéo sợi, làm bánh đúc, trồng cây con, rau quả trong vườn rồi làm thợ nề, thợ mộc mới đủ sống.
     Năm 20 tuổi thầy mẹ tôi sinh con đầu lòng là ông Nguyễn  Thái, năm 25 tuổi sinh con gái là bà Nguyễn Thị Danh ( bà Dương ), Năm 32 tuổi sinh con thứ 3 là ông Nguyễn Bình. Con cái mỗi ngày một đông nên ngoài làm ruộng, kéo sợi, làm bánh đúc còn đi buôn bông, buôn hành từ Cầu Giát, Chợ Dàn về bán ở chợ Chùa, chợ Sở kiếm chút lời mua mớ khoai lon gạo. Những công việc đó do thầy tôi đảm trách. Cuộc đời vất vả từ bé đến lớn làm lụng nuôi con khó nhọc vô cùng.

II -  Khi trưởng thành:
     Năm 1930- 1931 phong trào  Xô viết Nghệ Tĩnh đã làm cho hệ thống chính quyền phong kiến ở các làng tan rã, sau đó phong trào bị đàn áp nhất là những làng không có lý trưởng đứng đầu. Để tránh họa cho dân, các cụ trong làng đã họp và cử thầy tôi và một người khác nữa để quan huyện chọn làm lý trưởng. Lý do các cụ đưa ra là chọn người hiền từ, có học, đức độ, nho nhã, ăn nói lưu loát ai cũng nể phục thì dân mới được nhờ. Xuống phủ, quan phủ bắt hai người chép một đoạn của tờ báo bằng chữ quốc ngữ và chữ nôm, chẳng biết để làm gì? Sau khi nộp bài quan huyện xem và chọn thầy tôi. Thầy tôi xin từ chối vì hoàn cảnh khó khăn, gia đình nghèo, đông con sợ không làm được để các quan quở trách. Nhưng quan phủ không chấp nhận, bị quát nạt còn bị đánh mấy roi. Tình thế không thể thoái thác, vậy là thầy tôi buộc phải làm lý trưởng từ đó…Chuyện này ông Trương Kỳ nguyên Phó Giám Đốc sở lao động Hà Nội vẫn thường nói chuyện với tôi. Ông Trương Kỳ là người Thừa Sủng cùng sinh hoạt chi bộ với thầy tôi cũng kể lại như vậy. Trong cả thời gian làm việc, thu thuế trong thôn vẫn thực hiện như bình thường. các nhà có ruộng tự giác nộp, mùa nào bão lụt mất mùa thì được giảm thuế, nhà nào khó khăn thì tuần đinh đôn đốc, chỉ nhắc nhở không gay gắt quát nạt. Khó nhất là thu sưu ( một loại thuế thân ). Những người nghèo không có tiền thầy tôi cũng cho qua và thuyết phục quan phủ rằng người ta nghèo không có miếng ăn nên phải đi ăn xin, tha phương cầu thực, đi miền núi Tương Dương, Nghia Đàn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Thái Hòa để mót ngô, chặt củi. Mỗi bông kẹ cũng được dăm ba hạt, mỗi ngày chăm chỉ cũng được vài ống ngô cho cả nhà sống qua ngày thì tha cho người ta. Quan phủ im lặng và không nhắc tới nữa…
      Năm 1933 ông Bùi Tự Cường là học sinh trường phủ duy nhất của làng bị bắt vì tội lôi kéo học trò nghỉ học ( bãi khóa ). Thầy tôi và cố Bân đại diện gia đình xuống phủ xin tha cho về với lý do ông ấy còn trẻ tuổi ( khoảng 15- 16 tuổi ), suy nghĩ bồng bột. Cố Bân cũng hứa sẽ bảo ban con học tập ngoan ngoãn. Vậy là ông Cường được tha. Xóm làng tuy nghèo nhưng bình yên. Cứ một tuần  thầy tôi lại mặc áo the khăn xếp cắp ô đi bộ 7 cây số xuống phủ trình diện một lần để cho quan và bang tá biết rằng mọi việc vẫn trôi chảy. Do ăn nói thuyết phục, có tình cảm nên quan chức và nhân dân, nhất là các cụ cao tuổi trong làng nể trọng.
     Mọi việc đều êm xuôi nên quan phủ phần nào yên tâm.
Năm 1935 mẹ tôi sinh con gái đặt tên là Nguyễn Thị Hanh.
Năm 1937 sinh thêm một trai thiếu cân, còi cọc nên đặt tên là Nguyễn Nhỏ
Năm 1939 cưới vợ cho anh Thái, cũng năm đó chị Danh về nhà chồng. Chồng là ông Phạm Dương người cùng làng. Chị tôi lấy chồng lúc 14 tuổi.
     Năm 1940 tôi ra đời, nhưng cũng năm sau đó gia đình tôi bị chết 2 người con là chị Hanh và anh Nhỏ vì bị ôn dịch ( bệnh đậu mùa ). Năm đó nhiều gia đình trong làng có con bị chết, nhà một người nhà hai người do dịch bệnh hoành hành không có thuốc chữa. Hai cái tang trong một năm cộng với kinh tế quá khó khăn làm cho thầy mẹ tôi suy sụp và cũng không tha thiết điều gì để mong chờ, nên thầy tôi xin nghỉ. Dân làng thương tâm cử lý trưởng khác là ông Tăng Doãn. Trước khi nghỉ nhà nước phong kiến tỉnh phong cho cụ hàm Cửu Phẩm Văn Giai. Hàm này chỉ cấp cho những người có học thức, đức độ, nhân hậu, nho nhã được mọi người yêu mến. Khác với hàm Cửu Phẩm Bá Hộ để cấp cho các thành phần khác.
Trở về thường dân với bao nỗi lo toan, tiếp tục cày cấy, làm vườn, nhưng ruộng đất ít nên phải buôn bán nhỏ vì không có vốn, lấy công làm lãi tý chút để nuôi sống cho cả nhà trong cảnh cơ hàn. Nhà cửa vẫn ngôi nhà mái rạ 4 gian ở bìa làng, tường nhà chỗ xây bằng sò viên chỗ thì vách cót, mấy năm sau lại phải thưng cho anh cả một gian làm buồng riêng và một cái nhà  bếp lợp tranh, tường bằng vách tre trát bùn trộn rơm.

III -  Giác ngộ Cách mạng:
     Từ năm 1936 Mặt trận Bình Dân bên Pháp thắng cử có chủ trương thay đổi một số chính sách như thả tù chính trị, cải cách thuế khóa và thay thế người cai trị ở các thuộc địa và bản địa, một số tù nhân chính trị ở VN cũng được tha. Sau đó ở địa phương cũng nghe đến việc hình thành tổ chức Mặt Trận, hai năm sau mới rõ ràng là Mặt Trận Phản Đế.
     1939 ra đời tổ chức Nông Hội, tuy không công khai, thầy tôi tham gia hội này từ năm 1942. Sau này mới biết là Nông Hội Đỏ.
     1943 mẹ tôi sinh thêm con trai út, đặt tên là Nguyễn Thụ. Đến khi đi học cấp I đổi thành Nguyễn Minh Châu.
     Cách mạng tháng tám 1945 nghe trống dục liên hồi cả làng mít tinh cướp chính quyền, Nông Hội Đỏ là nòng cốt của lực lượng ấy. Thầy tôi cũng là thành viên tích cực của những cuộc biểu tình mít tinh kéo nhau xuống phủ cướp chính quyền. Chính quyền cũ tan rã.
     Cách mạng tháng tám thành công, nhà nhà đều phấn khởi, chính quyền mới tỉnh, huyện được thành lập. Xã cũng vậy. Sau khi thành lập xã Hạnh Viên gồm làng Hiệu Thượng, làng Tú Mỹ  và làng Nghi Lộc, rồi bàu Ủy ban kháng chiến Hành chính xã Hạnh Viên, thầy tôi trúng cử chức Chủ Tịch.
     Công việc ban đầu của UBKCHC xã Hạnh Viên là ổn định xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Thành lập các tổ chức dân quân, du kích, đoàn thanh niên cứu quốc, hội phụ nữ, đội thiếu nhi. Già trẻ lão ấu đều có đoàn thể của mình, sinh hoạt rất sôi nổi. Công tác sản xuất nông nghiệp, trồng rau màu được đẩy mạnh để chống đói, nhất là xóa mù chữ cho nhiều người, các lớp học bình dân học vụ được mở ra ở từng thôn xóm. Để chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội khóa đầu tiên ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn dân nô nức học chữ quốc ngữ. Phong trào bình dân học vụ lên cao, Thanh niên biết chữ trong làng đều hăng hái dạy học. Để cuộc bàu cử quốc hội khóa I đạt kết quả. Dân quân du kích đội ngũ chỉnh tề, tập đi đều bước, tập đứng nghiêm, quay trước, quay sau, quay trái , quay phải khi có khẩu lệnh của chỉ huy. Mỗi người trang bị 1 cây gậy tre dài 1,6m, có người có mũ ca lô, một mũi giáo sáng lòa cắm chặt vào đầu gậy. Tuy quần nâu áo vá, có người chỉ có quần đùi, chân đất, ai mặc quần dài thì dùng dây thắt túm dưới gấu quần gọi là quần gôn. Ai đứng vào hàng ngũ ấy đều thấy tự hào và trông oai lắm. Khi người chỉ huy hô: Việt Minh thì mọi người đồng thanh hô: Vạn Tuế (nghĩa là Việt Nam muôn năm). Khi người chỉ huy hô: Dô Ta – tất cả hô vang: (nghĩa là Đoàn kết) Mỗi khẩu hiệu hô 3 lần. Tiếng hô vang vọng tràn ra xóm làng làm lòng người phấn chấn, quên đi cái đói cái rét đang hiện hữu. Những năm đầu sau C/m tháng tám 1945 là như vậy, vui lắm, phấn khởi lắm. Nhiều hôm dân quân du kích ngủ tập trung qua đêm tại đình làng hoặc nhà ai đó có sẵn ổ rơm ổ rạ ấm áp. Sáng dậy sớm chạy quanh làng, vừa chạy vừa hô khẩu hiệu Việt Minh – Vạn Tuế, Đô Ta – Hè rất vui. Khí thế cách mạng ngày càng lên cao.
     Tham gia hoạt động trong Nông Hội Đỏ và Mặt trận Việt Minh suốt từ năm 1942 đến năm 1948 Thầy tôi được kết nạp vào Đảng. Tuy lúc ấy Đảng đang hoạt động bí mật, nhưng hàng loạt đảng viên mới được kết nạp. Anh Thái và Chị Danh tôi cũng được vào Đảng thời gian đó. Đảng trực tiếp lãnh đao phong trào kháng chiến kiến quốc ở địa phương thông qua tổ chức Nông Hội và Mặt Trận.
     Khoảng năm 1949 huyện nhập 4 xã Viên, Hoa, Hạnh, Quảng thành xã Trung Diễn, thầy tôi phu trách thuế và bình dân học vụ. Sau vài năm lại nhập mấy xã nữa thành xã Quảng Châu gồm 31 thôn tất cả. Thầy tôi vẫn làm 2 nhiệm vụ trên trong phạm vi 31 thôn.
      Mọi nhiệm vụ được giao thầy tôi đều hoàn thành, xứng đáng là một Đảng viên tiêu biểu của Đảng, không có điều tiếng gì.
      Do ruộng đất ít, nhà nghèo nên năm 1948 gia đình tôi nhận 3 sào ruộng rẽ của ông Trùm Dương, nhà ở xóm Cao Vương ( xóm Chùa ). Mỗi khi gặt lúa phải mời người nhà ông này giám sát xem gặt được bao nhiêu gồi, bao nhiêu lượm, bao nhiêu gánh, trừ đi lượng lúa làm giống 5% còn lại chia đôi và gia đình tôi phải gánh đến tận nhà trả cho họ.  Tất nhiên thuế má nhà tôi phải nộp. Có một lần tuy còn nhỏ tôi cũng cùng gánh thóc đến nhà nộp tô cho chủ ruộng.
     Năm 1953 nhà nước chủ trương giảm tô 25% nghĩa là gặt được mười phần chia làm 4 , ¼ đó của tá điền cày rẽ được hưởng, còn lại ¾ chia đôi, người có ruộng một phần, tá điền một phần. Đến cải cách ruộng đất 1955 nhà tôi được chia luôn 3 sào ruộng ấy. Được cắm thẻ nhận ruộng ai cũng vui. Không khí trong thôn rộn rã tiếng cười…
      Cũng năm cải cách ruộng đất, thầy tôi bị xóa tên khỏi Đảng vì có người tố cáo theo dõi bắt ông Bùi Tự Cường, nhưng năm 1943 ấy thầy tôi đã nghỉ 2 năm trước. Với lại ban đêm do đói kém nên kẻ trộm trong làng cũng như các làng khác mò vào làng mình rình rập bắt trộm gà, trộm rau màu, tuần đinh đi tuần chống trộm cho dân lại nghĩ có kẻ rình mò để bắt cộng sản. Lúc đó người ta tố sai chẳng ai có thể thanh minh được. Thôi thì cây ngay chẳng sợ chết đứng, thầy tôi chỉ tin có vậy. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại được  phục hồi trở lại do bị tố oan. Thầy tôi thở phào nhẹ nhõm và nói rằng đúng là trời có mắt. Cũng may tuy làm lý trưởng nhưng thật chẳng có gì, nhà tranh vách cót, thiếu đất, cày thuê làm tá điền cho địa chủ, nhưng lúc đó thầy tôi cũng hoang mang lắm. Về sau quy thành phần được xếp vào trung nông lớp dưới bị bóc lột. Anh Thái tôi ở  riêng, có 2 mảnh vườn, không có trâu bò nên xếp vào thành phần bần nông.
      Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp thầy tôi được nhận huy hiệu kỷ niệm kháng chiến, sau này được nhận huy chương kháng chiến hạng nhất.
      Khi thành lập HTX nông nghiệp, thầy tôi được bàu vào ban quản trị phụ trách kế toán và tham gia một số công tác khác ở địa phương. Cho đến năm 1970 thầy tôi mới nghỉ hoàn toàn, không tham gia công tác gì nữa, ở nhà trồng trọt chăn nuôi, làm thợ nề, thợ mộc giúp bà con xây dựng nhà cửa ( lúc đó cụ đã 70 tuổi ).
     Năm 1987 mẹ tôi qua đời, thọ 87 tuổi.
     Năm 1992 thầy tôi qua đời, thọ 93 tuổi.

      Các con đến tuổi trưởng thành xung phong vào lính đánh giặc như ông Thái, ông Bình, ông Châu đều trở thành Đảng viên của Đảng, Được phân công những công việc trọng yếu phù hợp với trình độ văn hóa mỗi người. Còn tôi, sau khi học xong khóa trung cấp Thiết kế kiến trúc 3 năm, năm 1962 tôi ra trường được phân công về viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc, được xếp vào tổ Thiết kế những công trình đặc biệt cho Trung Ương và Chính Phủ. Làm bí thư chi đoàn và là ủy viên BCH Đoàn Viện Thiết kế. Năm 1965 được kết nạp vào Đảng. Năm 1966 được cử  học đại học Xây Dựng. Năm 1971 tôi là một trong 2 học sinh tốt nghiệp loại giỏi của khóa học ấy. Năm 1973 được điều động về công trường 75808 trực tiếp thi công Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi kết thúc công trình tôi về lại cơ quan cũ làm KS thiết kế kết cấu Viện Thiết Kế Dân Dụng BXD…
     Năm 1980 tôi được Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên bổ nhiệm Phó Giám đốc xí nghiệp và biệt phái về xây dựng nhà máy điện Phả Lại, sau đó làm Giám Đốc Trung tâm KTKT xây dựng. Năm 1988 được cử đi I Raq 2 năm, năm 1991 về nước làm Trưởng phòng kỹ thuật và quản lý dự án của VINACONEX - 6 cho đến lúc nghỉ hưu năm 2003.

     Nghĩ về người cha, tôi thầm biết ơn cụ đã để lại cho chúng tôi nếp sống, nếp nghĩ của những nhà nho thuở trước, luôn luôn tôn trọng sự thật, lấy đạo đức của người chân chính để học tập rèn luyện. Chúng tôi thật tự hào và không hổ thẹn với người cha thân yêu của mình…

  Hà Nội  ngày 22 - 4 – 2016

 Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

Trò chơi con trẻ

( Thơ thiếu nhi )

Trò chơi tự tạo
Không mất tiền mua
Vẫn khỏe vẫn đùa
Thích ơi là thích...
Bạn cười khúc khích
Tôi vã mồ hôi
Chúng ta cùng chơi
Trò khoeo chân nhẩy...

Nỗi nhớ vu vơ


Một mình trong đêm vắng
Laị nhớ vu vơ từ thuở thiếu thời
Đôi guốc nhựa màu ngay ngắn hẳn hoi
Xếp đơn sơ ở ngoài khung cửa
Bước chân son một thời trên đôi guốc nhựa
Ôm khít gót chân trắng hồng như lụa
Như là ta đã có nhau.

Tấm áo thiên thanh xanh đậm một màu
Vào nỗi nhớ nhung
Còn nguyên sơ đi vào ký ức.
Năm tháng qua mau bao mùa lá bạc
Vẫn như in tiếng guốc buổi tan tầm
Áo phai màu lỗ khuyết hở lặng câm
Khoe da trắng một thời nông nổi.

Chiếc nón lá trong vành trăng muốn nói
Nét hoa văn che nửa mái đầu
Suối tóc dài buông gọn phía sau
Cho mơ mộng tràn về bao quyến rũ.

Năm tháng xưa có dư thừa gian khổ
Vẫn nên thơ trong mộng ủ ráng chiều
Ngày hè dài chim quốc gọi tịch liêu
Ghi nỗi nhớ vu vơ  cùng đi vào bất tận...



Kết quả hình ảnh cho nỗi nhớ

Bài viết của GS Nguyễn Lân Dũng

Vài lời khuyên nếu bạn đã 60 tuổi
Thứ tư - 07/09/2016 05:11
·                                     Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

       Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Số người sống đến 100 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ là 1 trên 100.000 người.
       Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.
       Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.
       Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai gì nữa đâu.
       Đừng lo lắng nhiều quá về con cái, vì con cái có số phận của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.
       Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Chúng tất nhiên biết lo cho cha mẹ, dù có lòng nhưng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm ăn và nhiều ràng buộc khác nên không thể giúp bạn được đầy đủ.
       Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khỏe với tiền tài. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khỏe. Khi nào thì bạn thôi kiếm tiền? Và có bao nhiêu tiền là đủ?
       Dù bạn có cả ngàn mẫu đất, bạn cũng chỉ ăn khoảng vài bát cơm mỗi ngày; dù bạn có cả chục biệt thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng vài mét vuông để ngủ vào ban đêm.
       Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có thể có những chuyện buồn phiền riêng.
       Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn con mình. Nhưng bạn có thể so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể làm thay đổi, vì chẳng có ích gì, mà lại còn tổn hại cho sức khỏe bạn…
       Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc cho chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn đúng là đã sống hạnh phúc từng ngày.
       Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “có được”.
       Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ ít đến.
       Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một vài thứ thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm với tràn trề sức khỏe.
       Và, nhất là cần biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn bạn bè nữa. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và thấy còn có nhiều người cần đến mình. Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, buồn tẻ.
        Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

       (Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn đã trên 60 tuổi, hay những người không bao lâu nữa cũng sẽ đến tuổi 60).

Hai lần gặp Bác

( Hồi ký của Nguyễn Quang Huệ )

         Tôi ra trường đầu năm 1962 và được phân công về Viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc. Trong quãng thời gian từ 1963 đến 1965 tôi may mắn được gặp Bác hai lần.
        Lần thứ nhất: Đó là ngày 17 tháng 3 năm 1963 chúng tôi đang làm việc ở công trường khu tập thể Kim Liên ( Hà Nội ) thì có đoàn xe 3 chiếc: một xe màu đen và 2 xe com măng ca đi vào công trường. Chẳng có một thông báo nào trước đó nên không ai để ý. Đến khi có mấy người trên xe xuống trước mở cửa, thấy một cụ già bước ra hao hao giống Bác thế là mấy người hô to Bác Hồ đến, Bác Hồ đến. Cả công trường náo động hẳn lên người nọ truyền tai người kia, bỏ hết công cụ đang làm việc, hướng theo đám đông chạy tới.  Chỉ một loáng sau đã đông nghịt hàng mấy trăm người, không còn chỗ chen chân. Vậy là Bác đứng giữa một khoảng trống rộng do các đ/c bảo vệ và ban chỉ huy công trường dãn dẹp. Ban chỉ huy cử ngay bảo vệ đem một cái bàn gỗ và micro ra cho Bác đứng nói chuyện ngay tại hiện trường. Những tiếng hô vang lên: Hồ Chủ Tịch muôn năm, Bác Hồ muôm năm. Ai nấy đồng thanh hưởng ứng. Tất cả đều rạng rỡ vì được gặp Bác, một điều mong ước mà không phải người nào cũng may mắn được gặp.
        Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng. Mọi người im phăng phắc để nghe Bác nói chuyện. Bác nói đại ý: Hôm nay Bác về thăm Kim Liên, thăm các cháu đang xây dựng khu nhà mới tại đây. Bỗng Bác hỏi Kim Liên là gì các cháu biết không? Mọi người suy nghĩ để trả lời nhưng Bác giải thích luôn: Kim là vàng, liên là sen. Kim Liên là bông sen vàng, thật quý thật đẹp có phải không? Mọi người vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng theo cách giải thích của Bác. Các cháu đang xây dựng khu tập thể Kim Liên sao cho đẹp, cho bền chắc, chất lượng cho tốt. Nếu thực hiện được như vậy năm sau Bác lại về thăm Kim Liên. Cả đám đông vỗ tay vang dậy và hứa sẽ làm theo lời Bác để năm sau lại đón Bác về thăm. Buổi nói chuyện tuy ngắn ngủi nhưng chúng tôi nghe như nuốt từng lời Bác nói. Sau đó Bác chúc mọi người mạnh khỏe, công tác thật tốt. Các đ/c hướng dẫn Bác vào thăm nhà ăn của khu tập thể, và hướng dẫn Bác ra xe đi theo lối khác mà không quay lại đường cũ. Bao người hụt hẫng tiếc nuối vì đứng đợi Bác quay ra. Nhưng Bác đã đi khỏi công trường lâu rồi mà không ai biết.
        Thực ra trước lúc xuống xe Bác đã quan sát, kiểm tra một vòng những ngôi nhà 4 tầng đã lắp ghép xong. Bốn nhà khu A đã có người ở, đó là các chuyên gia Triều Tiên và chuyên gia Liên Xô. Mấy ngôi nhà khu B mới lắp xong và đang hoàn thiện. Tuy vậy đường sá vẫn còn ngổn ngang. Vài khu đất trống chưa xây dựng công trình, một số cơ quan tranh thủ trồng khoai, trồng rau để cải thiện bữa ăn cho tập thể.
        Khu tập thể Kim Liên ứng dụng phương pháp lắp ghép tấm lớn của Triều Tiên lần đầu được xây dựng tại VN. Những khu nhà 4 tầng lắp bằng những tấm tường lớn đúc sẵn bằng bê tông xỉ có cốt thép, để sẵn những mối nối để hàn với nhau. Sau khi đổ bê tông vào khuôn, cấu kiện được chuyển vào buồng hấp bằng hơi nước nóng 100 độ trong 24 giờ. Lúc đó bê tông đã ninh kết gần 100% cường độ thì được đem ra hiện trường chuẩn bị lắp ghép bằng cần trục tháp.
         Năm 1954 ký kết hiệp định đình chiến Giơ ne vơ. Năm 1958 Bác đi thăm một số nước XHCN trong đó có Triều Tiên, Bác thấy họ xây dựng theo cách này rất nhanh nên đã đặt vấn đề với bạn giúp VN áp dụng công nghệ này. Thế là chuyên gia bạn đã được cử sang, phía VN cũng cử thực tập sinh đi Triều Tiên học tập. Chỉ mấy năm đã hình thành khu tập thể khang trang và đẹp đẽ. Khu tập thể Kim Liên ra đời đã giảm bớt khó khăn về chỗ ở của bao cán bộ và chuyên gia các nước lúc bấy giờ.
        Công lao to lớn của Bác đối với chúng ta không gì so sánh được, phải không các bạn…Bác đã đi xa 48 năm nhưng những kỷ niệm trong tôi chưa bao giờ phai mờ và luôn thầm hứa với Bác sẽ làm việc thật tốt, sống gương mẫu noi theo tấm gương của Bác…

        Lần thứ hai:
        Khoảng tháng 11 – 1965 tôi và đoàn đại biểu Đoàn Viện Thiết kế vinh dự được mời dự đại hội Đoàn các cơ quan Trung ương họp tại hội trường Bộ Lao Động. Các đại biểu được thông báo sử dụng quần áo tối màu để tránh máy bay địch. Lúc đó tôi là Ủy viên BCH Đoàn Viện và là bí thư Chi Đoàn Thiết kế 1, là đơn vị xuất sắc ba năm liền đươc công nhận tổ LĐXHCN (lao động xã hội chủ nghĩa) của Đoàn Bộ Kiến Trúc nên may mắn được mời tham gia Chủ Tịch Đoàn.
        Khi đ/c Đoàn Tiến Duyệt Bí thư Đoàn đang đọc báo cáo tổng kết phong trào "Ba sẵn sàng" của Đoàn các cơ quan Trung ương được khoảng 15 phút, chúng tôi nghe tin Bác sẽ đến Đại hội, cả hội trường nhốn nháo hẳn lên, chẳng ai nghe gì nữa. Thấy không khí ồn ào, đ/c Duyệt dừng lại và đề đại biểu trật tự ngồi tại chỗ chờ đón Bác. Khoảng 10 phút sau Bác đến, cùng đi có Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Cả hội trường trên 450 đại biểu đứng dậy vỗ tay vang dậy đón chào Bác. Bác và Thủ tướng đi thẳng lên Đoàn Chủ tịch. Đưa tay ra hiệu cho chúng tôi yên lặng, Bác nói: Bác và đ/c Thủ Tướng thay mặt Trung ương Đảng và Chính Phủ đến thăm Đại hội và nói chuyện với thanh niên về phong trào “Ba Sẵn sàng”. Trung ương Đoàn cũng đã báo cáo những thông tin cần thiết cho Bác.
        Trong số 450 đại biểu dự Đại hội này có 113 cháu gái, có 120 cháu quê miền Nam, như thế là tốt. Số cháu gái đó chưa phải là nhiều cho nên các cháu phải cố gắng vươn lên. Phong trào "Ba Sẵn sàng" đã có thành tích khá, nhưng phải khiêm tốn, chớ phô trương hình thức.
        Anh Phạm Tiến Duyệt có ý muốn thanh minh nhưng Bác đụng nhẹ vai anh Duyệt tỏ ý nhắc nhở, sau đó Bác nói tiêp:
        Trong số hơn 45.000 đoàn viên, thanh niên cơ quan trung ương ghi tên tình nguyện "Ba sẵn sàng", mới có một nửa được công nhận. Số còn lại phải làm thế nào xứng đáng được công nhận danh hiệu "Ba Sẵn sàng". Các cháu phải ra sức phấn đấu hơn nữa.
      Mấy năm qua các cháu đã giúp các bộ, ngành và chính phủ hoạt động tốt, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng được giao. Bác nhắc các cháu phải đẩy mạnh thi đua giữa địa phương này với địa phương khác, ngành này với ngành khác, cơ quan này với cơ quan khác để học tập lẫn nhau và cùng nhau tiến bộ. Các cháu nữ phải học tập phụ nữ Nam Ngạn và phụ nữ thôn Bùi…
        Đến phần khen thưởng: Bác tặng huy hiệu của Người cho 24 đoàn viên xuất sắc. Đọc tên từng người, đến số 16 là Bùi Ngư, khác với thông thường, Bác đọc chậm, nhỏ hơn cả trích ngang, đột nhiên Bác hỏi Cháu Bùi Ngư đâu? đ/c Ngư lúng túng hồi hộp đứng dậy: Thưa Bác Cháu đây ạ. Bác đọc chậm: Bùi Ngư, dân tộc Mường, Ký thuật trung cấp điện Viện Thiết kế Dân Dụng bộ Kiến Trúc. Bác dừng lại nói khôi hài: Bác tưởng cháu làm nghề nuôi cá chứ? Cả hội trường cười ồ vì câu hỏi bất ngờ, dí dỏm của Bác, vỗ tay tán thưởng, phấn chấn rất lâu. Điều đó chứng tỏ Bác rất quan tâm và khích lệ đến các cán bộ là người dân tộc…
        Kết thúc buổi nói chuyện bác nói: Bác nhờ các cháu đại biểu dự Đại hội hôm nay chuyển lời hỏi thăm thân ái của Trung ương Đảng và Chính phủ đến các cháu đoàn viên và thanh niên đang công tác, sản xuất, chiến đấu và học tập ở các địa phương…
        Bác xin phép ra về. Cả hội trường đứng dậy tiễn Bác và tràn ra cửa để được gần Bác lần nữa, nhưng các đ/c bảo vệ đã đưa bác đi ra bằng cửa khác. ..

        Tôi ngồi cách Bác một hàng ghế, bàn trước bàn sau trên Chủ tịch đoàn, lòng lâng lâng niềm vui hạnh phúc.
        Các bạn ạ, Làm công tác Đoàn cơ sở cũng có lúc được may mắn như vậy đấy. Tôi đã được gặp Bác hai lần…

                                                                                             Hà Nội ngày 18 - 5 - 2017

                                                                                                       


Một thời

Bài thơ cũ nay Fb cho tôi ôn lại.

Một thời...
20:42 | Nhãn: Bài viết mới

Một thời hữu nghị đôi bên
Một thời dao quắm vung lên bổ đầu (1) !
Một thời gà gáy gọi nhau
Một thời chọc gậy (2)... phá rào tràn sang (3)...
Hoan hô mười sáu chữ vàng
Nhưng còn khoản nợ "trả Hoàng..."(4) thì sao ?
Nợ nần đừng để quá lâu
Lưỡi bò liếm cả yết hầu Biển Đông !?(5)
Xóm giềng nhức nhối mặc lòng
Dân nhiều, nước lớn mà không chung tình !...
Pháp xưa xâm lược nước mình
Mà nay thân thiết như hình anh em
Mỹ xưa giết hại dân đen
Mà nay tay bắt, mặt hiền như hoa
Nhật - Hàn - Úc cũng thế mà
Ngày xưa đấu súng nay ta đón chào
Bạn bè ở khắp Năm Châu
Đều hân hoan với bạn bầu Việt Nam .
Vì sao cạnh xóm, cạnh làng
Mà toàn gây chuyện trái ngang cho người
Lại còn muốn chiếm biển, trời
Ai qua xin phép ?... ôi thôi lạ kỳ ?
Xóm giềng chung cả lối đi (6)
Mà sao xí chỗ làm chi - bực mình ?
Anh em là phải phân minh
Đừng nên dựng chuyện linh tinh hại người...
Chân thành cần lắm ai ơi
Nghĩa tình hơn hẳn ngàn lời nói suông...!
(!) 10 h 30 ngày 25/8/1978, sau khi gây ra sự kiện "NẠN KIỀU" do TQ đóng cửa khẩu Lạng Sơn không cho Người Hoa về nước làm hàng ngàn người kẹt lại, gây rối loạn vùng biên. Một số Người Hoa và côn đồ người TQ tràn qua cột mốc đã dùng gậy gỗ và dao quắm bổ vào đầu, vào người chiến sĩ trẻ Lê Đình Chinh làm anh hy sinh tại chỗ , trong khi đó anh chỉ có tay không vận động họ giữ trật tự. Anh là chiến sĩ đầu tiên hy sinh ở chiến trường biên giới phía Bắc mà cuộc chiến tranh này do TQ gây ra .
(2) 1976 TQ xúi bẩy và hậu thuẫn cho Pôl Pốt (Khmer đỏ) đánh VN ở toàn tuyến biên giới Tây Nam gây nhiều tai họa cho nhân dân ta. Chúng còn định tiến đánh Sài Gòn của chúng ta .
(3) Ngày 17/2/1979 TQ tràn sang đánh VN đồng loạt ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc, công khai phát động cuộc chiến tranh biên giới với VN .
(4) 1974 TQ đánh chiếm đảo Hoàng Sa của VN do Ngụy quyền Sài Gòn chốt giữ.
(5) 14/3/1988 TQ đánh đảo chìm Gạc Ma của VN làm 64 chiến sĩ ta hy sinh.
(6) Không phận quốc tế .

lăng mộ đá toyota thanh hóa