Sẽ đến một ngày

( Viết nhân dịpTrang thơ đã có 145 ngàn lượt người mở xem )

Sẽ đến một ngày mấy trăm ngàn lượt người
mở trang thơ để đọc
Món quà riêng để tặng cho mình
Sẽ có ngày nhiều hơn thế nữa
Lộc vào nhà mang màu nắng tươi xinh.

Mỗi một ngày qua bao người mở cửa
Đón trang thơ e ấp mời chào
Dòng tâm tình như con khát sữa
Với vui buồn tựa ánh trăng sao.

Sẽ đến một ngày nửa triệu người qua
Xem những vần thơ - xem cây chờ nắng
Hoa nở, đài rung hương nhụy bay xa
Hương ngào ngạt cùng hoa dâng tặng...

Kết quả hình ảnh cho hoa hồng đẹp


Sau hơn 3 năm Thi Đàn VN mở giúp Trang thơ, ngày 15 tháng 8 - 2017 đã có hơn 145 ngàn lượt người mở để đọc. Món quà quý của người yêu thơ trong nước và nước ngoài dành cho, tôi vô cùng xúc động. Tôi chân thành cảm ơn bạn yêu thơ khắp vùng miền trên cả nước, xin hứa sẽ cố gắng để đáp lại sự thịnh tình của các bạn.

Thơ Trần Chấn Uy

GỬI NGƯỜI KHÔNG QUEN
Gió lạnh, mắt chiều, một người xa vạn dặm
Nghe mưa về từ nẻo hoàng hôn.
Màu oải hương, thương một thời xa lắm
Áo phù vân giã biệt tháng năm buồn .
Sao cứ nhớ một nỗi gì ngoài vô tận
Hận trái tim mình nông nỗi đến vô duyên .
Thắp ngọn đèn khuya, thức cùng đêm trắng
Rót chén lòng uống cạn với tàn canh.
Thôi thì, xin gửi lại màu hoa thương nhớ ấy
Về chốn xưa, mưa nắng cõi người
Đành buông bỏ nỗi niềm ngoài mong đợi
Áo mù sa, hoa tím lạnh bên trời !
Mùa hạ buồn 2017
TRẦN CHẤN UY
.

Khát khao

( Đọc bài thơ này ai cũng thấy mình trong đó )

Sao ta lại xa nhau để cả đời chịu khát?
Dù quanh ta vẫn có nước trong lành
Sao ta lại buông lơi giấc mộng
Để ngàn ngày nuối tiếc tuổi xuân xanh!

Kỷ niệm ngọt ngào đâu thể quên nhanh
Những nỗi nhớ nhung không bao giờ dứt
Để tình ta vẫn mãi là ký ức
Sâu thẳm mơ màng hóa đá những vần thơ.

Chưa một lần tan chảy trong mơ
Chưa một lần ong bay bướm lượn
Nhưng vẫn mang theo một đời lận đận
Phút giây nào ta lại có nhau?...

Kết quả hình ảnh cho nhớ tình xưa

Tiếng nổ đầu tiêncủa Làng Hiệu Thượng

        ( Hồi ký của Nguyễn Quang Huệ )

    Tôi không rõ lắm sau c/m tháng 8 – 1945 Làng Hiệu Thượng đã khai hỏa chưa. Tôi chỉ biết rằng dân quân tự vệ làng mình lúc ấy chỉ có gậy tre và mấy ngọn giáo sắt. Một vài người có đại đao như ông Nguyễn Khả, cung nỏ như ông Nguyễn Hữu Thái, ông Bùi Hồng là cùng, không thấy có súng trường và lựu đạn.
    Những năm đầu xây dựng lực lượng vũ trang ở làng ta là đã tổ chức được một đại đội dân quân tự vệ khoảng trên dưới 90 người. Nhân ngày kỷ niệm tết độc lập năm 1947 Làng Hiệu Thượng tổ chức cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập và lễ ra mắt đại đội dân quân tự vệ của làng...
    Mỗi tiểu đội biên chế 10 người, mỗi trung đội có 3 tiểu đội. Mỗi đại đội có 3 trung đội. Các đại biểu của xã Hạnh Viên và các đoàn thể của thôn ngồi ghế trong Đình Làng. Đại đội tự vệ xếp hàng ngay ngắn ngay sân đình theo từng tiểu đội, trung đội. Nhân dân dự lễ đứng chung quanh và tràn ra ngoài đường về phía đông cạnh vườn cố Mẫn, vườn Bà Hào. Đình làng cũ to rộng, mái lợp ngói âm dương. Cột gỗ to. Chân cột kê bằng những viên đá tảng có hoa văn. Ba gian giữa của đình rộng rãi, hai bán mái vát nghiêng hai bên. Kèo bán mái, mỗi bên đóng 2 con giơi chạm khắc bằng gỗ đang sải cánh bay, trông rất giống loại giơi quạ mà TV vẫn chiếu trên màn hình bây giờ.
    Nhân kỷ niệm tết độc lập, làng quyết định cho nổ một quả lựu đạn chào mừng, mở đầu một thời kỳ mới, cho cuộc kháng chiến ở quê nhà. Người được giao nhiệm vụ ném quả đạn  mỏ vịt ấy là ông Nguyễn Tấn. Lúc đó ông Tấn trên hai mươi lăm tuổi, trẻ khỏe, dũng cảm, am hiểu bắn súng và ném lựu đạn. Tôi cũng không biết ông ấy đã được huấn luyện ở đâu và từ bao giờ nhưng lúc ấy được giao nhiệm vụ quan trọng như vậy là vinh dự lắm. Ông Tấn rất tự tin sẽ ném quả lựu đạn trúng đích và thành công.
    Mục tiêu là cho quả đạn phải trúng giữa bụi tre ở góc vườn nhà ông ấy. Nếu được như vậy, mảnh đạn không bắn ra ngoài, bị bụi tre che chắn hết, hạn chế rủi ro có thể xẩy ra. Khoảng cách từ tường bao mép đình tới bụi tre phải qua sân đình , qua ruộng mạ nhà cụ Hoán. Tổng cộng dài khoảng hơn 20 mét. Chung quanh đình và sân đình đã có tường hoa xây bằng những viên sò, cao khoảng trên một mét. Ông Tấn đã chuẩn bị sẵn sàng thực thi nhiệm vụ…
    Sau khi phổ biến cho mọi người tìm chỗ khuất, ngồi thấp sao cho tường hoa của sân đình che lấp để tránh mảnh vỡ của quả lựu đạn, các đội viên dân quân phải nằm xuống sau khi có lệnh. Mấy phút chuẩn bị căng thẳng, nín thở, chờ đợi. Kiểm tra một lượt thấy đã ổn, Người chỉ huy hô khẩu lệnh:
- Đại đội nghiêm, nằm xuống theo một góc lệch sang phải. Thế là cả đại đội dân quân nằm rạp xuống sân đình, đều tăm tắp.
Khẩu lệnh hô tiếp:
- Phút chuẩn bị bắt đầu:
- Ném. Ông Tấn bước chân trái lên, chân phải giữ nguyên, vươn tay phải ra sau, đập hạt nổ vào tường bao đình làng và dang tay ném quả đạn vào bụi tre như đã định rồi nằm xuống như người nằm bắn. Chỉ ba hoặc bốn giây sau khi ném, một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Mọi người thở phào, trở lại phút ban đầu, mặt mày rạng rỡ vui cười hiện trên nét mặt. Không chờ khẩu lệnh đứng dậy của chỉ huy. May mắn làm sao quả đạn không vướng cây tre nào mà chui lọt vào giữa bụi. Sự chọn lựa của tập thể giao nhiệm vụ ấy cho ông Tấn là rất chính xác...

    Đại đội tự vệ trở lại đội ngũ xếp hàng ngay ngắn. Đại diện chính quyền biểu dương lực lượng và căn dặn mấy điều. Sau đó tự vệ ở lại. Dân chúng ra về trong niềm hân hoan khó tả.
    Lúc ấy tôi tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã đứng sát chỗ ông Tấn xem ông ấy thực hiện như thế nào, nên nhớ rất rõ những động tác của người vệ sĩ năm xưa. Chứng kiến bao điều mới mẻ của làng ta trong những ngày đầu của cuộc k/c chống Pháp ở quê mình.
    Tiếng nổ đó như một hiệu lệnh, mở đầu sang giai đoạn trường kỳ kháng chiến của làng ta, hưởng ứng theo lời kêu gọi “Toàn Quốc Kháng Chiến” của Cụ Hồ. Từng đợt thanh niên của làng hăng hái tòng quân nhập ngũ. Người ở lại tập luyện đều đặn mỗi tuần, bà con nông dân hăng say sản xuất, chi viện cho chiến trường đánh giặc…


Hà Nội tháng 8 năm 2017

Mưa đêm

Rào rào mưa rải mái tôn
Bóng đen ập đến đầu thôn ngỏ lời
Tai nghe cơn gió rong chơi
Rủ rê cả trận mưa rơi ào ào.

Nhập nhoằng chớp lóe tìm sao
Chị Hằng run sợ trốn vào mây đen
Ầm Ầm mưa gió một phen
Qua cơn giận - Mặt lại hiền như không.
Để người đón giải hừng Đông
Mặt trời chứng kiến trên đồng đã mưa...


Kết quả hình ảnh cho mưa đêm

Thăm nghĩa trang dòng Họ

Rằm tháng giêng về quê giỗ Họ
Thăm nghĩa trang
Nơi tập trung mười đời bia mộ
Hoa đại nở từng chùm
Chín rộ buông tay
Hương đại thơm quấn quýt bên người
Cánh hoa phảng phất
Nhắc lời Tổ Tiên.

Từng hàng
Mộ chí ngồi thiền
Nghe trong cát bụi
Ở miền quê hương
Nguyên tiêu con cháu tìm đường
Về quê giỗ Tổ cội nguồn ơn sâu
Dù đường xa ngái đến đâu
Gắng về thăm viếng rượu trầu cúng dâng...

 Kết quả hình ảnh cho hoa đại trắng

Nhớ quê

Trông bãi ngô xanh tôi lại nhớ quê
Mùa no ấm sắp về bên xóm nhỏ
Nhớ ngày xưa thuở chăn trâu cắt cỏ
Tắm nước ao làng mát lạnh cả hàng cau.

Nắng tháng ba hoa lạc nở vàng au
Chui xuống đất để kết thành quả quý
Đã bao đời đất quê ta vẫn thế
Đón mùa xuân hoa trái cũng theo về...

Kết quả hình ảnh cho mùa lạc




Thơ Hoàn Nguyễn


.Đêm, hai người phụ nữ nói chuyện với nhau.
Những dòng tâm trạng buồn, nỗi buồn của hai người đàn bà làm thơ, trót đa sầu, đa cảm... Tôi biết ở phía đầu kia có "giọt sương lăn trên mi mắt em", bởi tôi cũng vậy.😢
Và tôi viết bài thơ này cho em, cả cho tôi nữa!
MỘT NÀY KHÓC - MỘT NÀY CƯỜI
(viết cho Nga)
Em ngồi đốt vía thời gian
Đuổi hình tìm bóng cho tàn một đêm
Ngậm ngùi
uống giọt sương êm
Tình tình
rây ướt
say mềm lả lơi
Say
chơi vơi
say
chơi vơi
Một này khóc
một này cười
ngất ngư
Trầm luân
chìm nổi còn dư
Tố Như ơi
hỡi Tố Như hồn về
Bừng bừng thức tỉnh cơn mê
Ngủ đi quên giấc tái tê cõi người...!


Trong hình ảnh có thể có: cây, đêm, bầu trời, ngoài trời, nước và thiên nhiên

Những người con trai Họ Phạm

    Làng Hiệu Thượng quê tôi ( xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An ) có một dòng họ mà người dân các dòng họ khác nhìn vào với một tình cảm mến yêu và kính nể.
    Nói về các họ trong làng thì nhiều: Họ Tăng, Họ Trần, Họ Ân, Họ Bùi, Họ Hoàng, Họ Nguyễn, Họ Trình, Họ Phan, Họ Hồ, Họ Đường v/v… Nhưng nổi nhất vẫn là Họ Phạm.
    Họ Phạm có số hộ nhiều nhất so với các họ trong làng. Trong kc chống Pháp, những người con trai họ Phạm xung phong nhập ngũ, thoát ly làm cán bộ, công nhân viên nhà nước cũng đông nhất. Người dân Họ Phạm vẫn giữ được truyền thống đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, đời sống vật chất trong các thành viên sàn sàn như nhau, không có người quá giàu cũng không có người quá nghèo, Mức sống chung hơn hẳn các dòng họ khác. Con em Họ Phạm được chăm sóc tốt hơn, việc học hành của con cháu được khuyến khích và chăm lo chu đáo.
    Tôi nhớ những năm 1955-1958 khi cả huyện không có trường cấp III, chỉ có một trường cấp II công lập Nguyễn Xuân Ôn, cụ Phạm Độ đã phải bán đi 2 gian nhà ngói để mua xe đạp cho anh Phạm Thanh Hải đi học. Khi học trường Huỳnh Thúc Kháng cũng phải bán trâu và cầm cố một vài thứ có giá trị để anh ấy vào TP Vinh học tiếp cấp III. Trong khi đó con em các họ khác vẫn cố gắng đi bộ đến trường huyện học hết cấp II rồi đi học các trường trung cấp chuyên nghiệp.
     Cụ Phạm sỹ là một trưởng họ tuyệt vời, hiếm có. Tính tình cụ lúc nào cũng hòa nhã, nhẹ nhàng, không tư lợi một điều gì, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Cụ rất có uy tín với bà con trong họ và trong làng. Các cuộc họp của xóm thường ở nhà cụ. Cụ bà chịu khó nấu nước, hôm nào họp cũng nấu một nồi to đầy nước chè xanh. Thôi thì cả người lớn và trẻ con như chúng tôi, mùa hè uống nước như rồng, vậy mà hai cụ cũng chẳng phàn nàn kêu ca gì. Cụ Phạm Sỹ là trung tâm đoàn kết của cả họ và những người dân họ khác của quê nhà. Họ Phạm tự hào có cụ trưởng họ xuất sắc. Sau ngày cụ mất, các ông Phạm Bá Luận rồi ông Phạm Hiệu… thay nhau làm trưởng họ đã phát huy được truyền thống gia đình của Cụ Phạm Sỹ.
    Những người con trai họ Phạm hăng hái tham gia kháng chiến rất sớm như Cụ Phạm Bồi, Phạm Độ, Cụ Phạm Lộc, Phạm Năm, Phạm Sâm. Cụ Phạm Nhã là quân nhân chống Pháp, là một thương binh. Con trai cụ tiếp bước lên đường chống Mỹ, nhưng trong chiến đấu anh đã hy sinh ở chiến trường Miền Nam, Đó là liệt sĩ Phạm xuân Hương.  Đúng là “ Lớp cha trước, Lớp con sau – Đã thành đồng chí chung câu quân hành”.
    Cụ Phạm Tám là cán bộ huyện. Năm 1958 cụ được điều động đi xây dựng khu tự trị Thái Mèo ở Sơn La, làm việc ở Văn Phòng khu ủy. Năm 50 tuổi cụ là Phó Hiệu trưởng trường Trung cấp Y- Dược của tỉnh. Cụ Phạm Chín tham gia quân đội chống Pháp. Cụ là thương binh hạng đặc biệt, được trở lại quê hương xây dựng gia đình. Nhưng lúc vết thương tái phát, người nhà đưa cụ đi bệnh viện nhưng không kịp, cụ trút hơi thở cuối cùng trên đường đi… Đến lớp sau có các ông Phạm Bá Luận, Phạm Sinh, Phạm Dương… Lớp sau nữa như các ông Phạm Đình Văn, Phạm Đình Tựu, Phạm Bá Tân là những cán bộ quan trọng của đia phương mấy chục năm nay. Phạm Thanh Hải, là nhà giáo của một huyện miền núi của Nghệ An. Phạm Thâm, quân nhân, Phạm Thục Lựu, cán bộ ngành nông nghiệp, Phạm Xuân Chư, là thương binh, rồi Phạm Bằng , Phạm Hữu là 2 anh em ruột đều là thương binh. Phạm Hồng là nhà giáo xuất sắc, Phạm Hoa là Phó Trưởng ban tín dụng Ngân Hàng Nông nghiêp Trung Ương, Phạm Trung là Tiến sĩ, Đại tá Công An, Phạm xuân Dương là Chủ Tịch rồi Bí thư Đảng ủy xã Diễn Hạnh, Phạm Đức Cường là Chủ Tịch Liên đoàn Lao đông Diễn Châu, Phạm Đường là bệnh binh Chất độc da cam và còn nhiều người nữa mà tôi không biết hết. Số con em đi bộ đội rất nhiều. Cả làng có 22 liệt sĩ thì họ Phạm đã có tới 6 người ra đi không trở lại quê nhà như các liệt sĩ: Phạm Điệng, Phạm văn Tình, Phạm Xuân Hương, Phạm Huy, Phạm Văn Đông, Phạm Bá Hợi. Một Bà mẹ VN Anh Hùng có 2 con liệt sĩ là bà Phạm Thị Thất. Hiệu Thượng có 24 thương bệnh binh thì riêng Họ Phạm đã có 9 người...
    Có một điều đáng quý là bà con họ Phạm không bao giờ phân biệt cư xử người trong họ với bà con các họ khác. Không bao giờ tranh chấp cán bộ họ này với họ kia. Mối tình đoàn kết giúp đỡ nhau trong tình làng xóm, láng giềng thân thiết và luôn tự hào mình là người dân của Làng Hiệu Thượng. Mỗi lần giỗ Họ là một lần gặp lại nhau, tình cảm chan chứa thương yêu họ mạc. Mỗi gia đình làm một mâm cỗ đưa đến nhà thờ cúng họ, ăn chung. Nhà thờ Họ Phạm to nhất làng, lại sát đường lớn, rộng rãi,  càng thấy rõ sự huyên náo, vui vẻ trên khuôn mặt mỗi người. Tôi được biết nhà thờ Họ Phạm được đề nghị tỉnh Nghệ An cấp bằng công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh.
    Tôi nhớ các ông Phạm Năm, Phạm Tám… tuy thoát ly làm việc ở nơi khác, nhưng mỗi bận về qua nhà đều đi thăm hỏi các gia đình trong làng, thân tình, gần gũi như những người thân yêu của mình.

    Những người con trai Họ Phạm thật xứng đáng với Tổ Tiên, làng xóm và quê hương đất nước. Thật hiếm có một dòng họ nào có đủ tiêu chí Dòng Họ có truyền thống, nhân văn và vẻ vang như Họ Phạm quê tôi…

           NQH
          Hà Nội ngày 26 tháng 7 năm 2017
         ( Bài viết đã được bổ sung và chỉnh sửa )


Thơ Hà Quang

Nhà thơ, Nhà báo Hà Quang hiện nay là chánh văn phòng Hội Thủy lợi VN
Phó Tổng biên tập Tạp chí Tài nguyên nước, nguyên là chiến sĩ sư đoàn 305.
Trong buổi gặp mặt các gia đình liệt sĩ và thương binh của khu dân cư, nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày TBLS, ông tặng tôi bài thơ này. Tôi cho đăng lên đây chia sẻ cùng bạn đọc.

HOA DÀNH DÀNH

Hoa dành dành nở bên bờ ao
Dáng e ấp như người con gái
Nhớ ngày anh lên đường ra trận
Những cánh hoa thấp thoáng nắng chiều.
*
Mỗi mùa hoa nói hộ bao điều
Mỗi cánh hoa gợi bao nỗi nhớ
Dành dành ơi, sao mà thầm kín thế!
Chỉ mình em lặng lẽ với hoa thôi.
*
Anh đi xa, bao ngày anh đi xa
Hoa vẫn nở bên bờ ao trước ngõ
Em vẫn đợi một khoảng trời lặng gió
Đón anh về vai áo rắc đầy hoa...
*
Anh đi xa , anh đã đi thật xa!
Tuổi thanh xuân, nơi chiến trường gửi lại
Dẫu biết vậy mà em vẫn đợi
Bởi mùa hoa đâu dễ lãng quên!...

Cuộc đời mặn chát của một bà mẹ VN Anh Hùng

  ( Chuyện về bà Nguyễn Thị Thoan, mẹ liệt sĩ Nguyễn Phượng )

   Sau mấy chục năm qua đời, bà mới được nhận sự tôn vinh của nhà nước: Mẹ VN Anh Hùng.
   Nhà nước và nhân dân biết ơn bà. Những nén hương, cây nến thắp lên bái tạ bà, muộn mằn nhưng trang trọng từ tấm lòng thành kính của chính quyền và mọi người dân quê nhà.
   Những người con quê hương kính dâng bà tấm lòng biết ơn bà đã sinh ra người con trai duy nhất đã hiến dâng đời mình cho Tổ Quốc. Đó là liệt sĩ Nguyễn Phượng.
   Bà tên là Nguyễn Thị Thoan ở làng Hiệu Thượng, xã Diễn Hạnh, huyện Diễn Châu, Nghệ An.
   Thuở mười tám đôi mươi, bà về nhà chồng là người cùng thôn. Gia cảnh nhà chồng cũng có bát ăn bát để, chỉ hiềm một nỗi anh em chú bác hiếm hoi nên không có chị em dâu, một mình bà lo toan gánh vác công việc nhà chồng. Cuộc đời bà vất vả vô cùng. Bố mẹ chồng mất sớm. Khi con trai bà chưa trưởng thành, chồng bà lại qua đời, để lại bà mẹ góa con côi. Bà ở vậy nuôi con. Mẹ con quấn túm lấy nhau sống tạm đủ qua ngày, cuộc sống chẳng có gì gọi là sung túc. Tài sản ông bà để lại là ngôi nhà thờ lợp ngói 4 gian, một ngôi nhà bếp lợp tranh thưng cót tuềnh toàng, gần hai sào vườn và vài thửa ruộng ngoài đồng. Do thiếu sức lao động nên vườn tược cứ để cây dại mọc hoang, tre pheo phủ bóng, rậm rạp. Chung quanh vườn lại là chỗ trũng nước nên đến mùa mưa bão nước ngập đến mấy tháng mới cạn. Ễnh ương, cóc nhái, chẫu chuộc, côn trùng tha hồ kêu vang trời mỗi mùa mưa đến. Khu vườn tối tăm ẩm thấp. Ai đi qua khu vườn ấy vào ban đêm đều ái ngại do vắng vẻ, đom đóm bay ra dày đặc lại thiếu bóng người. Chỉ dăm ba luống sát sân là trồng cấy được nắm rau, bụi mía, thu hoạch chẳng đáng là bao. Tuy vậy với hai mẹ con không đến nỗi ăn bữa nay, lo bữa mai như nhiều gia đình nghèo trong thôn ít ruộng vườn phải bươn trải qua ngày. Cũng do neo đơn vất vả nên bà bị gù lưng lúc ngoài 40 tuổi, mọi công việc đồng áng gánh vác rất trở ngại khó khăn đối với bà…
   Anh Nguyễn Phượng lớn lên trong tình yêu thương của mẹ, ngày càng khỏe mạnh, đẹp trai, trắng trẻo, rất thư sinh. Anh tham gia đoàn Thanh niên cứu quốc và dân quân tự vệ ở địa phương rất tích cực.
   Bà cưới vợ cho anh đã mấy năm, chưa có cháu, con dâu cũng ở cùng thôn. Tuy vậy, anh vẫn xung phong nhập ngũ. Mấy năm sau anh được ra quân. Do hoàn cảnh chỉ có hai mẹ con. Cảnh mẹ chồng nàng dâu lâu ngày chuyện va chạm là tất nhiên khó tránh nên bà cho anh chị ở riêng ngay từ lúc anh chưa đi bộ đội. Anh ra đi, chị vợ ở nhà cũng chẳng giúp gì đỡ đần cho bà nên bà chỉ một mình một bóng, tự bà xoay xở, sống trong cảnh cô đơn không người nương tựa….
   Đời bà tăm tối nhất là những năm cải cách ruộng đất. Người ta chỉ trông thấy bà có nhà ngói, có trâu cày, có ruộng đất, thỉnh thoảng lại nhờ người bà con làm giúp việc đồng áng khi mùa màng bận rộn như cày cấy hoặc thu hoạch mà quy bà thành phần địa chủ. Mặc dù bà không thừa ruộng để phát canh thu tô, không cho vay nặng lãi như những người khác. Bà bị bắt, bị đấu tố, bị đả đảo. Tài sản bị niêm phong. Chủ tọa phiên đấu tố có 3 người là bần cố nông, người thì ít học, người thì mù chữ, và một cán bộ đội cải cách. Họ bắt bà đứng dưới sân. Những người đấu tố bà đứng trên thềm nhà thờ họ Nguyễn (Viết). Họ tha hồ xỉa xói bà, tố bà bóc lột nông dân. Hăng hái nhất đấu tố bà chính lại là con dâu của bà. Chị ấy dồn toàn bộ tức tối để diếc móc bà, xỉa xói tay vào mặt bà, làm trán bà thâm tím, rớm máu, xuýt bị ngã quỵ trên sân đấu tố. Mấy chục năm qua tôi không thể quên hình ảnh đáng trách chị con dâu của bà và đáng thương cho bà. Một khi mà đạo đức bị chà đạp không còn nề nếp gia phong của con người thì không còn gì để nói nữa!...Lúc đó đội là trời, chẳng ai giám ý kiến gì. Đội bảo sao nghe vậy nếu không sẽ liên lụy tới bản thân và gia đình mình.
   Cũng may sau đó chính phủ đã nhận thấy sai lầm do đội cải cách lộng quyền và dốt nát đã gây nên bao bất công sai trái nên chỉ thị khẩn phải sửa sai ngay. Bà và mấy người nữa trong thôn được trả lại thành phần cũ là trung nông, nhà cửa ruộng nương vẫn nguyên vẹn. nhưng lúc này bà cũng đã già yếu lắm rồi!...Mấy năm sau thì bà mất...
   Sau khi ly hôn vợ cũ, anh Phượng tìm hạnh phúc mới, có 2 con gái, 2 con trai. Cuộc vui chưa được chục năm anh lại tái ngũ ra chiến trận và anh đã không về.
   Quê hương lại có thêm một liệt sĩ hy sinh cho Tổ Quốc. Số liệt sĩ của riêng làng Hiệu Thượng đã lên đến 22 người. Rất ít người tìm thấy mộ. Phần lớn trong số đó ra đi chưa trở lại quê nhà!...
   Bà nguyễn thị Thoan mất đi người con duy nhất. Bà được nhà nước vinh danh Mẹ Việt Nam Anh Hùng nhưng bà mẹ ấy đã mất trước đó hàng chục năm có lẻ!...
   Thắp nén hương thơm kính dâng bà, bày tỏ lòng thành kính của chúng tôi đối với liệt sĩ Nguyễn Phượng và Mẹ VN Anh Hùng:  Bà Nguyễn Thị Thoan .
   Kính mong bà và các liệt sĩ an giấc ngàn thu nơi cõi phật, Phù hộ cho con cháu và bà con quê hương an lành trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới tại quê nhà ngày càng tươi đẹp…

   NQH

   Hà Nội ngày 20 tháng 7 năm 2017

Chuyện của cha tôi

Thưa bạn đọc.

Đáng ra bài này tôi đăng hôm 18 tháng 6, "Ngày của cha", nhưng hôm nay tôi mới đưa lên vì nghĩ rằng ngày ấy rất nhiều bạn viết về Phụ thân của mình. Hôm nay ít người có bài về đấng sinh thành là đúng rồi. Bao giờ cũng vậy, như người đi đường, chậm một chút nhất định vắng khách hơn, đường ít người đi lại tha hồ tung tẩy. Hôm nay tôi xin post  lên đây vài ba câu chuyện đời thường của cha tôi, mong được sự chia sẻ của các bạn.

Cụ Nguyễn Vấn (1900 - 1992 )

     Câu chuyện thứ nhất: Làm phúc

     Đang cuốc cỏ lúa ngoài vườn, có một người họ hàng xa mang đến một thẻ hương đen đã đốt sẵn đến nhà gọi cụ: Ông ơi, Cháu bị chó cắn, nhờ ông quản giúp cháu với. Thế là thầy tôi vác cuốc vào nhà, rửa tay chân sạch sẽ, và nói với họ, đưa vết cắn ông xem nào? Quan sát sơ bộ xong, cụ cầm thẻ hương vái mấy vái lên bàn thờ gia tiên và đọc lầm rầm điều gì đó mà tôi nghe không rõ. Tiếp đến cụ cầm thẻ hương quơ đi quơ lại như viết những chữ nho gì đó trước vết thương, đọc mấy câu thần chú xong cụ trả hương và dặn về nhà giữ gìn sạch sẽ, đừng để nước ao hồ sông ngòi dây vào thì 3 hôm sau sẽ lành.
    Chuyện ấy xẩy ra cứ dăm ba ngày lại có một người trong làng trong xã mang hương đến nhờ cụ giúp, không bao giờ lấy tiền hoặc mong trả ơn vì theo cụ đó là việc làm có đức, chẳng mất công mất cán gì cho nên cần giúp mọi người, âu cũng là làm phúc cho người ta vậy...
    Tôi là người chứng kiến nhiều lần như thế. Mùa hè cũng như mùa đông đều có khách, nhưng mùa hè thì nhiều hơn. Có một lần tôi hỏi cụ: Thầy có bí quyết gì không mà được mọi người tin tưởng như vậy? Cụ nói: Thầy làm theo Ông Nội các con thôi, bản thân thầy không biết có phép thuật hay thần bí gì cả.
    Tôi không tin những điều dị đoan như vậy nên khuyên cụ hạn chế việc này vì nhỡ chó dại cắn thì không thể cứu người ta được mà ngược lại làm họ chết oan một cách đau đớn.
   Cụ nói với tôi: Thầy biết. Trước khi giúp bao giờ thầy cũng xem xét vết thương xem có sâu không, chảy máu nhiều hay ít, nhiều răng hay ít răng? Hỏi qua con chó nhà ai? Tình trạng chó ốm hay khỏe? có bỏ ăn trước khi cắn hay không? Chó có hay trốn trong bóng tối không?... Nếu các yếu tố đó được loại trừ thì chắc chắn không phải chó dại. Tôi nghe vậy thấy yên tâm vì không phải cụ thực hiện một cách mù quáng mà căn cứ vào những hiện thực khoa học. Nếu thế, cụ thông minh thật. Mấy chục năm cứu người không xẩy ra điều gì, cụ thật đáng nể.
    Tôi nghĩ cụ không phải là thầy thuốc nhưng tấm lòng với mọi người xứng đáng như một lương y cao cả…
….
….

      Câu chuyện thứ 2: Đôi săng đan quai da đế krêp:

      Mùa hè năm 1952 anh Bình tôi xung phong nhập ngũ tân binh khóa 4. Cùng đợt ấy có 4 người trong làng là ông Nguyễn Do, ông Hoàng Đề, ông Trình Thu và ông Nguyễn Bình. Thanh niên 20 tuổi lên đường ra trận là điều vinh dự cho dân làng và gia đình. Năm đó tôi hơn 10 tuổi, anh em xa nhau biết bao bịn rịn vì chẳng có gì làm quà cho anh. Nhưng người buồn nhất, trăn trở nhất là thầy mẹ tôi.
    Anh tôi đi chỉ mang theo hai bộ quần áo thường ngày vẫn mặc, xếp gọn trong túi vải nhỏ cắp bên mình. Mũ nón không, đi chân đất, vội vàng tập trung ở đình Đào Viên lúc 4 giờ chiều, chưa kịp ăn một bữa cơm chia tay. Tám giờ tối hôm ấy tân binh hành quân qua làng Đông Phái, cách làng tôi một cánh ngô, một cánh lúa. Tiếng hò lơ ớ lơ hò lờ…vang vọng sang làng mình nghe rõ mồn một vì gió Đông Nam xuôi chiều. Đoàn quân vui vẻ lên đường. Mẹ tôi nước mắt ngắn dài vì thương con vất vả, hàng ngày vẫn đi lên phố huyện phía trên Cầu Bà, qua sông Yên Sở, gánh đỡ hàng cho mẹ . Bà buôn bán lặt vặt mỗi thứ một ít: vài chục củ gừng, mươi quả tai chua, chục quả dứa, một mớ nghệ, dăm chục quả muỗm và thanh trà. Mua từ chợ Dinh, Chợ Mõ đem về chợ Chùa bán lẻ. Vậy mà bây giờ con đi, ai là người sẽ giúp mẹ?!..
    Thầy tôi cứ yên lặng trầm tư. Anh Thái đã nhập ngũ cách đó 4 năm gửi thư về đang đóng quân ở Thanh Hóa rồi ra Ninh Bình. Tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh…
Sáng hôm sau thầy tôi mang ra chợ Chùa 1,5 kg bông xơ để bán, lấy tiền mua một đôi săng đan quai da, đế krep và nhờ chị dâu ( Chị Ngô thị Nhâm vợ anh Thái ) mang đi tìm chỗ đóng quân gửi cho em. Cụ chỉ nói hình như họ đóng quân ở vùng chợ Rộc huyện Yên Thành, cách nhà quãng 15 cây số gì đó. Hôm sau chị tôi khăn gói đi bộ lên đường sớm vì trời mùa hè nóng bức, cơm đùm cơm nắm, mang theo đôi dép quý. Chiều tối muộn chị tôi về, mang về bao thất vọng và mệt mỏi, mặt đỏ phừng phừng, lấm láp mồ hôi, ngồi phịch xuống thềm nhà, không quên đưa lại đôi dép mà thầy tôi hy vọng anh Bình sẽ nhận được. Thầy mẹ tôi thương con trai bao nhiêu giờ lại thương con dâu bấy nhiêu và nói với chị: Thôi được rồi, vào nhà nghỉ ngơi, tắm giặt xong ăn cơm với thầy mẹ và các em. Chị đã vất vả vì em mà không trọn.
    Cụ để đôi dép đó mấy tháng chờ anh tôi về mang đi nhưng càng chờ càng vắng. Về sau bán lại cho một người trong làng vì đó là tài sản lớn của thầy mẹ tôi lúc bấy giờ…
    Cảnh chia tay người con đi chiến đấu biết bao điều xấu tốt đang chực chờ, đơn giản như vậy. Thầy mẹ tôi chưa kịp dặn giò điều gì mà anh cứ vội vã như người đi làm đồng. Cảnh ấy diễn ra ở hầu hết các gia đình đều thế. Sau này thực hiện nghĩa vụ quân sự thì được chuẩn bị đàng hoàng hơn, ấm áp, tình cảm hơn…
    Kết thúc chiến tranh chống Pháp anh Thái tôi là Đại úy được ra quân năm 1956. Chuyển ngành về làm cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống công ty thực phẩm Nghệ An ở thành phố Vinh.
    Anh Bình được cử đi học tại Học viện Hậu cần Quân đội. Kết thúc khóa học được phong thượng úy, chủ nhiệm hậu cần, Phó Giám đốc Quân y viện 6, Quân Khu II ở Sơn La. Mấy năm sau làm cố vấn quân sự cho quân đội Lào ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Nậm Bạc. Lúc nghỉ hưu là Thiếu tá quân đội. Anh quyết định đưa cả gia đình về quê, xây dựng cuộc sống mới.
    Em Nguyễn Minh Châu nhập ngũ năm 1961 là sĩ quan thông tin quân khu 4. Địa bàn hoạt động nơi túi bom của giặc Mỹ. Đó là chiến trường Bình Trị Thiên. Sau giải phóng miền Nam đến năm 1977 được ra quân chuyển về Công ty Bưu điện Hà Nội.
    Điều đặc biệt ba anh em của tôi vào lính, xông pha trận mạc ác liệt nơi mưa bom bão đạn nhưng khi kết thúc chiến tranh không ai thương tổn gì, gia đình tôi lại sum họp trong niềm vui hạnh phúc và vô cùng may mắm…

Câu chuyện thứ 3:  Nhà tôi có đạn trong nhà

     Mùa thu năm 1952 một đơn vị quân đội đóng quân ở làng tôi, hình như chuẩn bị cho một chiến dịch mới.
    Ba tuần ở lại với dân được dân làng che chở đùm bọc. Các anh học tập chính trị, luyện tập các thao tác quân sự, lăn lê bò toài, xung phong, ngắm bắn mục tiêu cố định, di động. Phá hàng rào thép gai, mở khẩu cho bộ đội tiến công. Các động tác thuần thục như biểu diễn võ thuật.
    Đến kỳ chuyển quân đi nơi khác, đơn vị đã bí mật hành quân vào ban đêm ít người biết. Xóm làng bàng hoàng vì sự trống vắng đột ngột của các anh. Dân quê tôi có truyền thống yêu mến bộ đội Cụ Hồ. Đúng là quân với dân như cá với nước. Tình cảm quân dân mỗi ngày một sâu đậm theo thời gian…
    Trước lúc ra đi, ban chỉ huy chỉ trao đổi với thầy tôi ý định gửi lại khoảng 100 kg đạn súng trường, hẹn lâu nhất là 1 tháng, đơn vị sẽ cử người về nhận lại. Thầy tôi nhận lời. Mấy chiến sĩ khênh đến nhà lúc nhá nhem tối và đưa ngay vào buồng, xếp gọn vào đáy tủ gỗ. Xong xuôi cụ khóa lại và giữ luôn chìa khóa, dặn chúng tôi không được lộ bí mật là trong nhà mình có đạn. Điều lo lắng nhất của cụ vì nhà lợp mái bằng tranh rạ, sợ mẹ tôi đun nấu không cẩn thận nên ông thường xuyên nhắc bà nấu xong tắt lửa, đem hết rơm rạ còn lại ra ngoài. Cụ còn tự tay dập bếp bằng nước đến khi tro than tắt hẳn mới yên tâm đi làm việc khác.
    Có lúc cụ mở tủ ra kiểm tra, tôi tò mò xem. Những băng đạn màu đồng thau, đầu đạn màu đồng đỏ sáng loáng dài khoảng 1 mét, cuộn xếp ngay ngắn như những vị thần linh ở trọ trong nhà mình, bảo vệ che chở cho nhà mình, không sợ ma tà trộm cắp quấy nhiễu. Tôi hơn 10 tuổi đã tưởng tượng ra những điều viển vông, trẻ con như vậy, sau ngày lớn lên nghĩ lại, thấy thật buồn cười…
    Hơn một tháng sau, đơn vị cử 4 người về lấy. Các anh ấy chỉ lấy đi những băng nguyên vẹn, còn 3 viên lẻ, một anh lính trẻ dúi vào túi cho tôi. Tôi mừng nhưng không biết để làm gì nhưng vẫn nhận. Tôi coi như của riêng nên cất giữ cẩn thận lắm…
    Đến dịp giáp tết, nghe tiếng pháo nổ đì đùng của bạn bè, tôi mang ra từng viên một tìm cách rút đầu đạn ra để lấy thuốc bên trong các tút. Tôi biết bên trong có thuốc đạn và có thể chia từng ít một thay cho thuốc pháo. Thuốc đạn màu đen, có tinh thể như mì chính cánh, óng ánh dưới ánh sáng mặt trời. Nếu dí que diêm, thuốc sẽ bắt cháy kèm theo tiềng xì và tia lửa xanh lè  rất đẹp. Mùi thuốc cháy vừa khét vừa thơm hấp dẫn khó quên….
    Mấy năm sau gia đình ông Hà (hàng xóm) làm nhà, thuê bác thợ mộc trong thôn gia công kèo, cột, xà, dầm. Tóm lại là khoán phần lắp dựng khung gỗ. Đang làm dở chừng, không biết bác ấy nhặt đâu được viên đạn súng trường trông hơi cũ, vì chung quanh đã chuyển màu xanh của rỉ đồng, lấm láp bùn đất. Tiện tay bác ấy cầm viên đạn hướng đầu đạn lên trời, thắp que hương đang có lửa than màu đỏ dí vào đáy viên đạn. Đạn nổ, người ngã , máu đầm đìa chảy xuống sân. Bàn tay cầm đạn cụt mất 3 ngón. Tay loang lổ vết thương, may quá không ai làm sao. Thế là việc làm nhà của chủ đành bỏ dở. Sau 2 tháng điều trị, băng bó, công việc mới tiếp tục trở lại. Chủ nhà thuê thêm người phụ với bác nên mấy tháng sau mới hoàn thành công trình…
   Nghĩ lại mấy năm trước, lúc lấy thuốc đạn ra khỏi các tút, tôi thấy sợ, vì không hề biết đáy viên đạn có một hạt nổ, nếu chạm mạnh hoặc tiếp xúc với nguồn nhiệt, kíp sẽ nổ, làm cháy thuốc bên trong và gây tai nạn không lường trước được hậu quả. Tôi chỉ biết lấy một quai dép cao su quấn đầu đạn xoay đi xoay lại, lấy con dao nhỏ vuốt sống dao xuống đuôi viên đạn một cách nhẹ nhàng, đầu đạn sẽ lỏng ra. Tôi chỉ xoay vài vòng nữa là lấy được thuốc. Công việc thành công cho cả 3 viên diễn ra bình thường. Tôi gói từng ít nột như hạt ngô với giấy Pơ luya mỏng và đợi đêm tối trời mới đem ra châm lửa.
   Đem câu chuyện nghịch ngợm ở lứa tuổi trẻ con kể lại, tôi mong một điều: lứa tuổi thiếu nhi tránh xa khi tiếp xúc với đạn bom.
   Tôi rất buồn khi nghe tin nơi này nơi khác vẫn có người cưa bom, cưa đạn để lấy thuốc và đã hứng chịu tai nạn thương tâm, có vụ chết hai ba người một lúc, tan xương nát thịt một cách thê thảm như vụ cưa bom ở khu đô thị Văn Quán quận Hà Đông. Có người què cụt, hỏng mắt và chịu cảnh thiệt mạng hoặc tàn tật suốt đời.

   Tất cả họ đều ít hiểu biết về bom đạn, làm những điều ngờ nghệch nên phải gánh chịu hậu quả đau đớn mà thôi…

    Câu chuyện thứ 4: Đi xem xiếc

   Sau khi ký hiệp định đình chiến giữa VN và Pháp tháng 7 – 1954, hơn một năm sau Trung Quốc cử đoàn xiếc sang VN biểu diễn. Qua các đêm diễn ở Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, đoàn vào Vinh phục vụ nhân dân Nghệ An. Theo chủ trương của tỉnh, các buổi diễn sẽ dành một số vé mời phân phối cho các huyện, ưu tiên các gia đình có nhiều đóng góp cho kháng chiến. Đây là đoàn nghệ thuật nước ngoài đầu tiên biểu diễn ở tỉnh ta nên ai cũng muốn có một tấm vé để thưởng thức nghệ thuật. Xã Quảng Châu cũng được huyện phân cho 2 vé. Bình đi xét lại ai cũng muốn đi, thầy tôi vào diện ấy nhưng cụ bảo xin nhường lại cho người khác. Tuy vậy ông Trần Hạnh phó Chủ Tịch xã lúc ấy nói: ông cố gắng đi vì so tiêu chuẩn tỉnh hướng dẫn thì không ai bằng ông. Bản thân ông là Chủ Tịch UBKCHC xã từ đầu c/mạng tháng 8 năm 1945, lại có 2 con tòng quân vào bộ đội, gia đình tốt. Đây cũng là dịp may hiếm có, không nên từ chối. Nghe ông Hạnh phân tích, vận động, thầy tôi vui vẻ nhận lời. Không ai suy bì hơn thiệt…
   Cầm tấm vé về nhà khoe các con, cụ mừng ra mặt và tự hào lắm. Đây là vé tỉnh mời, không phải ai muốn có cũng được.
   Nghĩ đi nghĩ lại, chuyến này vừa đi xem, vừa vào chỗ anh Thái thăm anh ấy ra quân chuyển về đơn vị quốc doanh làm ăn ra sao?
   Sáng hôm sau thầy tôi lên đường…
   Năm ấy đường đi lại khó khăn vì chủ trương tiêu thổ kháng chiến của những năm trước đó. Đường bộ mới san lấp, đường tàu hỏa chưa khôi phục vì ray thép, tà vẹt đã phá dỡ, còn ô tô mỗi ngày có vài chuyến xe cỡ nhỏ cũ kỹ chở khoảng 30 khách chạy bằng hơi nước, đốt lò bằng than. Những người buôn bán bám trụ, người thường không thể tranh chỗ họ được. Cụ cũng nghĩ ngày trước đi chợ Giát buôn hành, cả đi cả về cũng mất cả ngày là thường nên quyết tâm đi. Nói đến xe đạp thì cả làng chẳng ai có, mà nếu có cũng chẳng biết đi nên thầy tôi quyết định đi bộ…
   Diễn biến chuyến đi ra sao mời các bạn xem bài thơ tôi viết, cách đây đã mấy chục năm, các bạn vui lòng xem lại nhé:

   ĐI XEM XIẾC

Mùa xuân năm sáu xiếc sang ta ( 1956 )
Tề Tề Cáp Nhĩ đúng tên Hoa
Trung Quốc – quê hương đoàn xiếc ấy
Vé tỉnh mời đưa đến tận nhà.

Gia đình kháng chiến được ưu tiên
Một vé rõ ràng ghi đúng tên
Ngày giờ biểu diễn xem đã rõ
Giấy mời đưa trước ba ngày liền.

Đến hẹn hôm sau ông cụ tôi
Đi từ sáng sớm cho mát trời
Bỏ túi đàng hoàng mười đồng chẵn (1)
Cho chắc – đi đường khỏi lụy ai.

Ô tô không có, xe đạp không!
Cụ tôi cuốc bộ một ngày ròng
Diễn Châu – Vinh bốn mươi cây số
Mệt đâu nghỉ đấy nhẹ như không.

Đến nơi xem xiếc thật là sang
Đèn điện sáng trưng rất rõ ràng
Ghế đệm lò xo ngồi nhún nhẩy
Dãy vé ưu tiên thật đàng hoàng…

Sáng hôm sau ông cụ ra về
Lại một ngày đường như lúc đi
Rã rời tay chân, thân bải hoải
Hỏi thế nào? Cụ chẳng nói gì!...

Hôm sau nữa như đã hoàn hồn
Cụ tả hai thằng vật nhau luôn
Vật xong đứng dậy chỉ còn một
Một thằng biến mất thật là khôn…

Nghĩ mà thương cụ đúng nông dân
Đi bộ cả ngày vì chiếc vé ưu tiên
Từ nay nếu được mời xem xiếc
Sẽ lắc đầu hàng chục cái liền…

                              NQH

(1) Mười đồng ngày ấy bằng bán 1/4 con bò các bạn ạ.

Thơ Đỗ Anh Thư

LẠC MẤT MÙA XUÂN.
Lần đầu em gặp chàng
Trên dốc mù sương bay
Lần đầu Anh ngỡ ngàng
Trông má nàng hay hay
Chiều Xuân trên phố núi
Ngọt ngào hồng môi ai
Lòng Anh nghe tiếc nuối
Và yêu thương dâng đầy
Rồi ngày em gặp chàng
Trong tiếng đàn mê say
Và hồn em mơ màng
Đắm đuối chìm Thiên thai
Chàng về gieo luyến nhớ
Muộn phiền trong mắt ai
Nhìn bông Hoa Quỳnh nở
Thương từng đêm trôi dài
Bềnh bồng trong ký ức
Ngày nào vai sánh vai
Ngày niềm vui háo hức
Trên đầu hoa em cài
Mà giờ sao héo hắt
Vườn tình gió lắt lay
Mùa Xuân vừa đi mất
Gót hài son lạc loài.
ATĐ.
Thích
Bình luận

Nhân văn trong CỬA KHÉP HỜ

         ( Bài viết của Nhà thơ, Nhà báo Nguyễn Đức Trọng )

     Cửa khép hờ là tập thơ thứ mười của KS - Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ.

     Tôi thực sự bị cuốn hút, ám ảnh khi đọc tập thơ Cửa khép hờ. Có bài tôi đọc đi đọc lại hai ba lần. Vừa đọc vừa suy nghĩ ý tưởng của tiêu đề từng bài nghe là lạ mà rất thăng hoa, từng cụm từ như biết nói, từng lời thơ như có nhạc…
     Mấy trăm năm về trước, tổng kết sự nhọc nhằn của những người làm thơ, Nguyễn Công Trứ đã viết:

            Mười bài được một câu hay
            Nghìn bài được một đã may lắm rồi.

     Nhưng đọc Cửa khép hờ của Nguyễn Quang Huệ thì ngay bài đầu tiên đã có câu thơ hay, bài thứ hai có câu thơ hay, bài thứ ba cũng có câu thơ hay…đến bài cuối sách những câu thơ lại càng hay. Như vậy có thể nói hiện tượng thơ Nguyễn Quang Huệ đã “Phá cách”.
    Ta hãy xem tiêu đề tập thơ Cửa khép hờ đã có cái gì đó là lạ của thế thái nhân tình, đã bắt người đọc phải dừng hình, phải suy luận sự trải nghiệm của một độc giả.
    Bằng lối thơ lục bát hiền lành mà tươi ròng. Tác giả dựng lên một hoàn cảnh rất thực của một cô gái trẻ (vợ lính) mới cưới chồng, ở nhà một mình trong ngôi nhà lá ở bìa làng,  trong đêm thanh vắng:

           Nhà tre nằm cạnh bìa làng
           Vắng người qua lại trời đang tối dần
           Đêm về chỉ có hai thân
           Chủ nhà là vợ quân nhân xa nhà
           Bên kia khách trọ hào hoa
           Vừa sơ tán đến tháng qua mấy ngày…

     Nguyễn Quang Huệ đã dùng hình ảnh ví von đúng tâm trạng háo hức, hừng hực của người con gái ấy qua khổ thơ tài hoa:
             
              Chủ nhà như ruộng mới cày
              Đêm đêm khó ngủ thở dài chờ trông
              Cửa buồng để ngỏ bên hông
              Ngoài này khách cũng khó lòng ngủ ngon
              Bên trong rạo rực bồn chồn
              Thắp đèn vỗ muỗi mở luôn cửa buồng.
                                                    ( Cửa khép hờ )

     Thật là logic và tài tình. Nguyễn Quang Huệ đã vẽ lên một bức tranh rất thực có hai cảnh đối trọng nhau. Như muốn hòa tan một phập phồng, muốn òa lên tiếng lòng…Nhãn tiền trước cảnh éo le trên. Cánh đàn ông trẻ đang sung sức ai cũng muốn chiếm đoạt và hưởng thụ ngay:

              Hay liều một chút tang bồng
              Chủ nhà đỡ phải nằm không chờ tình.

      Nhưng lý trí và tấm lòng nhân văn cuả khách trọ đã thắng bản năng:

              Thôi nào đành phải lặng thinh
              Tự nhủ rằng mình chớ có lơ mơ
              Vợ người là gái còn tơ
              Nhưng là vợ lính xô bồ được chăng?
              Thôi thôi xin tạ chi Hằng 
              Tôi trai chưa vợ xin đừng trêu ngươi
              Dấn vô sợ mọi người cười
              Gây nên tai họa suốt đời ăn năn…

      Ở đây ta thấy tác giả dùng từ rất dân dã mà quá hay: ( Tang bồng – chớ có lơ mơtrêu ngươi ) để nhìn thấy rõ ( Gây nên tai họa suốt đời ăn năn )

      Từ Cửa khép hờ là tư tưởng chủ đạo của tính nhân văn trong toàn tập thơ 77 bài của ông, để từ đó ông nhìn đời, nhìn người, nhìn thiên nhiên với bút pháp nhân ái.
     Ngay từ bài đầu tiên của tập thơ, tác giả đã tả một cơn mưa độc đáo, với những ngôn từ rất mạnh, cứ bay vun vút, rất đắt (Vù vù, cơn say, cuồn cuộn, mịt mù ). Cơn say của gió, của mưa thật khủng khiếp.
 
              Vù vù gió nổi cơn say
              Mây đen cuồn cuộn bao vây bầu trời
              Mịt mù bụi cuốn khắp nơi…

      Để rồi Nguyễn Quang Huệ chốt lại một thi ảnh rất thơ:
                  
              Hàng cây ven lộ nghiêng trôi một chiều.

      Quả thực ông đã dùng cụm từ thăng hoa ( Nghiêng trôi một chiều ) làm nổi bật lên một cơn mưa to gió lớn như là phong ba bão táp. Đó là sự thành công thi pháp của Nguyễn Quang Huệ.
      Với lối thơ quan sát chi li, ngôn ngữ độc đáo, ông đã diễn tả cảnh vượt đèo thật gan dạ, thật lý thú:

              Một bên dốc đá cao vời
              Một bên vực thẳm in trời Sông Gâm
              Lưng chừng đá đổ ầm ầm
              Đương gập lại tiếp chồng mâm trên đèo.

      Cụm từ in trời Sông Gâm thật là đẹp. Chồng mâm rất hài hước.
      Còn đây với cách vừa hỏi vừa trả lời trong bài  “Lối ấy” tác giả đã cảm tác được những tình cảm thuận mà còn dang dở của cái ngày xưa:

              Lối ấy ngày xưa anh vẫn đi
              Quen từng góc phố đến hàng si
              Xuống dốc Ngọc Hà rồi rẽ phải
              Gõ cửa chạm tay tuổi dậy thì.

      Chao ôi cụm từ chạm tay tuổi dậy thì đẹp biết bao nhiêu. Là thi ảnh bắt người đọc phải dừng hình.
      Còn đây câu hỏi cứ dùng dằng giữa đối thoại mà chờ cái kết của người đọc:
 
              Ý mẹ vun vào em biết không?
              Anh vui như được sưởi ấm lòng
              Riêng em cũng vậy sao khác được
              Đố biết?...Anh ?...Ai muốn lấy chồng?...

     Và đây người lính của đội quân dũng mãnh trước kẻ thù, nhưng cũng rất thơ mộng với lời hẹn bạn gái làng. Ta hãy xem nhà thơ thể hiện trong bài “Mùa cốm mới”:

              Nắng chiều đã nhuộm vàng trên lá
              Gió đưa lay động cả thân cành
              Trời thu trong mắt ai xanh ngắt
              Cho lòng em gái mãi thương anh…

 Ra đi anh gửi bao kỷ niệm
Hẹn đến mùa sau lúc nắng vàng
Anh sẽ về quê làm cỗ cưới
Đúng mùa cốm mới đón em sang.

     Với những thi ảnh đẹp ( Nhuộm vàng trên lá – Trời thu trong mắt ai xanh ngắt ) Nguyễn Quang Huệ đã mang đến niềm tin chiến thắng trở về ( Anh sẽ về quê làm cỗ cưới )

    Đọc kỹ hiểu sâu với Cửa khép hờ mới thấy rõ Nhà thơ thiên về thế sự, mạnh ở câu chữ, có nhiều đột biến hấp dẫn ở chất lãng mạn và tinh tế níu giữ người đọc bằng tình cảm chân thật, đắm đuối. Cốt lõi của thơ ông  là tình cảm chân thành và sự chia sẻ mộc mạc. Chất hoài niệm được chuyển tải bằng thơ có nhạc, nhịp điệu uyển chuyển qua thi ảnh lộng lẫy, có khi là trừu tượng, đơn giản nhưng triết lí:
     
              Muốn vui yên ấm trọn đời
              Mỗi người phải sống chẳng vì tôi
              Vì cha vì mẹ vì con cái
              Vì lẽ nhân sinh ở cuộc đời…

     Còn đây trong bài “Vô tình” tác giả lại lý lẽ một trạng thái rất rõ ràng:

              Vô tình nhặt được tứ thơ
              Chỗ ương chỗ chín bây giờ làm sao?
              Nhớ khi đã có được nhau
              Đừng xem thơ nhặt là câu vô tình.

       Và đây Nguyễn Quang Huệ nhớ người xưa sâu nặng qua cụm từ rất hay:
Hết cả chiều mây bay”:

              Bóng hình em sâu nặng
              Hết cả chiều mây bay

      Mở rộng biên độ thơ của Nguyễn Quang Huệ để đến lúc bạn thơ giật mình khi đọc chiều sâu suy tưởng trước cuộc sống trải nghiệm của liên tưởng và tri ân. Để rồi Nguyễn Quang Huệ gặt hái được bài thơ rất thơ:  “Mùa gặt mới”

Nắng vàng
Đã trải khắp đồng
Cuối ngày tất bật
Thu bông lúa về.

Đường quê
Cuối vụ xuân hè
Thơm mùi cốm mới
Mà nghe mát lòng

Trên vai
Hai bó nếp rồng
Của cô em gái
Lưng ong dậy thì

Mồ hôi
Mặn chát bờ mi
Trả người mùa gặt
Mỗi khi gặp người…

      Tôi trân trọng chúc mừng những thành tựu thơ của Nguyễn Quang Huệ đã thành công trong Cửa khép hờ.
      Nói đến thành công của nhà thơ không thể không nhắc đến người vợ thân yêu của ông. Bà là người phụ nữ hiền thục, đảm đang mọi công việc gia đình, tạo điều kiện cho ông sáng tạo nghệ thuật, sống hết mình cho sự nghiệp của chồng của con.

     Chúc mừng thi sĩ của miền “Gió Lào, Nắng cháy”, của tiếng chuông chiều ngân vang nơi Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An tiếp tục khám phá và tỏa sáng trên cánh đồng thơ ngào ngạt đưa hương.

Hà Nội ngày 7 – 5 – 2017

Nhà thơ - Nhà báo Nguyễn Đức Trọng 
Giám đốc Trung tâm Văn học Nghệ thuật
Thăng Long Văn Hiến




Chuyện về cụ Chủ Tịch Xã Hạnh Viên đầu tiên sau c/m tháng 8/ 1945



Cụ Nguyễn Vấn ( 1900 - 1992 )
I -  Thời niên thiếu và trai trẻ:
     Thầy tôi sinh năm 1900 ở xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An. Những lúc rảnh rỗi ông thường kể lại chuyện xưa về cuộc đời mình cho tôi nghe. Sở dĩ như vậy vì tôi hay hỏi chuyện cũ của cụ. Tôi nhớ rất lâu những chuyện ấy bởi trí tò mò và muốn sưu tầm những câu chuyện về gia đình mình. So với mấy anh em sinh ra, tôi được thưa chuyện với thầy tôi nhiều nhất.
Thầy tôi kể: Ông Nội tôi là Cụ Nguyễn Thê có 3 đời vợ. Bà thứ nhất  không có con, cụ lấy bà thứ hai sinh được người con trai là ông Nguyễn Tơn ( bố ông Đàn, Ông Lĩnh ) Sau đó cụ lấy bà thứ 3 là Trình Thị Độ. Bà Độ sinh ra thầy tôi và chị gái là Nguyễn Thị Thức ( mẹ ông Căn, ông Do ). Gia đình ông nội tôi tuy không giàu có gì nhưng cũng thuộc loại gia thế trong làng nên mới được gọi là ông Trùm Nội. Lớn lên chừng 8 tuổi ông  nội cho thầy tôi học chữ nho, chữ nôm do nhà nho Hồ Tiếu dạy. Nhà nho Hồ Tiếu người làng Quỳnh Đôi phủ Quỳnh Lưu vào dạy học ở làng tôi, làm rể làng tôi và sinh ra ông Hồ Tuân. Cụ luôn động viên thầy tôi cố gắng học và chăm làm việc. Cụ Hồ Tiếu là người bà con họ hàng gần với cụ Hồ Tùng Mậu và hơn cụ Hồ Tùng Mậu mươi tuổi vì cùng quê, cùng họ Hồ. Ông Nội tôi cũng động viên cứ chăm làm chăm học, đến mùa cụ sẽ thưởng cho mỗi bữa một bát cơm úp ( hai bát cơm úp làm một như bát cơm cúng, ở quê tôi vẫn làm như vậy ). Điều đó chứng tỏ nhà ông nội cũng nghèo, không đủ ăn nên phần thưởng cũng chỉ là bát cơm đầy mà phải cố gắng học tâp, làm việc thì đến mùa mới có. Phận làm lẽ nên sau khi có con bà nội tôi được ông nội làm cho một cái nhà tranh nho nhỏ ở góc vườn cho 3 mẹ con ở riêng. Thầy tôi là người rất sáng dạ, học thông viết thạo, chữ rất đẹp nên ai cũng khen. Mười sáu tuổi thầy tôi mới học chữ quốc ngữ kết hợp học cả chữ nho, chữ nôm. Chữ viết khuôn thước, không viết láu viết ẩu nên thầy giáo thích lắm. Tuy tuổi trẻ nhưng trong làng ai có việc bán ruộng bán nhà, mua bán trâu bò hoặc tài sản gì quý giá đều mời thầy tôi viết văn khế giao ước. Thời đó ai biết chữ, làm được văn tự như thầy tôi là hiếm lắm. Mười chín tuổi gia đình cưới vợ ( là mẹ tôi ). Vốn là con quan lục lộ, bà cũng xinh gái, kém thầy tôi một tuổi, (quê ở làng Nhân Trai xã Diễn Xuân). Tuy vậy do ông ngoại tôi mất sớm lúc bà ngoại mới hơn hai mươi tuổi, một mình ở vậy nuôi 2 con gái nhỏ dại nên mẹ tôi cũng vất và từ khi còn bé, do đó khi về làm dâu, thầy mẹ tôi  không nhờ vả bên nội, bên ngoại được gì nhiều. Vì ruộng đất ít, quanh năm làm đủ thứ nghề như kéo sợi, làm bánh đúc, trồng cây con, rau quả trong vườn rồi làm thợ nề, thợ mộc mới đủ sống.
     Năm 20 tuổi thầy mẹ tôi sinh con đầu lòng là ông Nguyễn  Thái, năm 25 tuổi sinh con gái là bà Nguyễn Thị Danh ( bà Dương ), Năm 32 tuổi sinh con thứ 3 là ông Nguyễn Bình. Con cái mỗi ngày một đông nên ngoài làm ruộng, kéo sợi, làm bánh đúc còn đi buôn bông, buôn hành từ Cầu Giát, Chợ Dàn về bán ở chợ Chùa, chợ Sở kiếm chút lời mua mớ khoai lon gạo. Những công việc đó do thầy tôi đảm trách. Cuộc đời vất vả từ bé đến lớn làm lụng nuôi con khó nhọc vô cùng.

II -  Khi trưởng thành:
     Năm 1930- 1931 phong trào  Xô viết Nghệ Tĩnh đã làm cho hệ thống chính quyền phong kiến ở các làng tan rã, sau đó phong trào bị đàn áp nhất là những làng không có lý trưởng đứng đầu. Để tránh họa cho dân, các cụ trong làng đã họp và cử thầy tôi và một người khác nữa để quan huyện chọn làm lý trưởng. Lý do các cụ đưa ra là chọn người hiền từ, có học, đức độ, nho nhã, ăn nói lưu loát ai cũng nể phục thì dân mới được nhờ. Xuống phủ, quan phủ bắt hai người chép một đoạn của tờ báo bằng chữ quốc ngữ và chữ nôm, chẳng biết để làm gì? Sau khi nộp bài quan huyện xem và chọn thầy tôi. Thầy tôi xin từ chối vì hoàn cảnh khó khăn, gia đình nghèo, đông con sợ không làm được để các quan quở trách. Nhưng quan phủ không chấp nhận, bị quát nạt còn bị đánh mấy roi. Tình thế không thể thoái thác, vậy là thầy tôi buộc phải làm lý trưởng từ đó…Chuyện này ông Trương Kỳ nguyên Phó Giám Đốc sở lao động Hà Nội vẫn thường nói chuyện với tôi. Ông Trương Kỳ là người Thừa Sủng cùng sinh hoạt chi bộ với thầy tôi cũng kể lại như vậy. Trong cả thời gian làm việc, thu thuế trong thôn vẫn thực hiện như bình thường. các nhà có ruộng tự giác nộp, mùa nào bão lụt mất mùa thì được giảm thuế, nhà nào khó khăn thì tuần đinh đôn đốc, chỉ nhắc nhở không gay gắt quát nạt. Khó nhất là thu sưu ( một loại thuế thân ). Những người nghèo không có tiền thầy tôi cũng cho qua và thuyết phục quan phủ rằng người ta nghèo không có miếng ăn nên phải đi ăn xin, tha phương cầu thực, đi miền núi Tương Dương, Nghia Đàn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Thái Hòa để mót ngô, chặt củi. Mỗi bông kẹ cũng được dăm ba hạt, mỗi ngày chăm chỉ cũng được vài ống ngô cho cả nhà sống qua ngày thì tha cho người ta. Quan phủ im lặng và không nhắc tới nữa…
      Năm 1933 ông Bùi Tự Cường là học sinh trường phủ duy nhất của làng bị bắt vì tội lôi kéo học trò nghỉ học ( bãi khóa ). Thầy tôi và cố Bân đại diện gia đình xuống phủ xin tha cho về với lý do ông ấy còn trẻ tuổi ( khoảng 15- 16 tuổi ), suy nghĩ bồng bột. Cố Bân cũng hứa sẽ bảo ban con học tập ngoan ngoãn. Vậy là ông Cường được tha. Xóm làng tuy nghèo nhưng bình yên. Cứ một tuần  thầy tôi lại mặc áo the khăn xếp cắp ô đi bộ 7 cây số xuống phủ trình diện một lần để cho quan và bang tá biết rằng mọi việc vẫn trôi chảy. Do ăn nói thuyết phục, có tình cảm nên quan chức và nhân dân, nhất là các cụ cao tuổi trong làng nể trọng.
     Mọi việc đều êm xuôi nên quan phủ phần nào yên tâm.
Năm 1935 mẹ tôi sinh con gái đặt tên là Nguyễn Thị Hanh.
Năm 1937 sinh thêm một trai thiếu cân, còi cọc nên đặt tên là Nguyễn Nhỏ
Năm 1939 cưới vợ cho anh Thái, cũng năm đó chị Danh về nhà chồng. Chồng là ông Phạm Dương người cùng làng. Chị tôi lấy chồng lúc 14 tuổi.
     Năm 1940 tôi ra đời, nhưng cũng năm sau đó gia đình tôi bị chết 2 người con là chị Hanh và anh Nhỏ vì bị ôn dịch ( bệnh đậu mùa ). Năm đó nhiều gia đình trong làng có con bị chết, nhà một người nhà hai người do dịch bệnh hoành hành không có thuốc chữa. Hai cái tang trong một năm cộng với kinh tế quá khó khăn làm cho thầy mẹ tôi suy sụp và cũng không tha thiết điều gì để mong chờ, nên thầy tôi xin nghỉ. Dân làng thương tâm cử lý trưởng khác là ông Tăng Doãn. Trước khi nghỉ nhà nước phong kiến tỉnh phong cho cụ hàm Cửu Phẩm Văn Giai. Hàm này chỉ cấp cho những người có học thức, đức độ, nhân hậu, nho nhã được mọi người yêu mến. Khác với hàm Cửu Phẩm Bá Hộ để cấp cho các thành phần khác.
Trở về thường dân với bao nỗi lo toan, tiếp tục cày cấy, làm vườn, nhưng ruộng đất ít nên phải buôn bán nhỏ vì không có vốn, lấy công làm lãi tý chút để nuôi sống cho cả nhà trong cảnh cơ hàn. Nhà cửa vẫn ngôi nhà mái rạ 4 gian ở bìa làng, tường nhà chỗ xây bằng sò viên chỗ thì vách cót, mấy năm sau lại phải thưng cho anh cả một gian làm buồng riêng và một cái nhà  bếp lợp tranh, tường bằng vách tre trát bùn trộn rơm.

III -  Giác ngộ Cách mạng:
     Từ năm 1936 Mặt trận Bình Dân bên Pháp thắng cử có chủ trương thay đổi một số chính sách như thả tù chính trị, cải cách thuế khóa và thay thế người cai trị ở các thuộc địa và bản địa, một số tù nhân chính trị ở VN cũng được tha. Sau đó ở địa phương cũng nghe đến việc hình thành tổ chức Mặt Trận, hai năm sau mới rõ ràng là Mặt Trận Phản Đế.
     1939 ra đời tổ chức Nông Hội, tuy không công khai, thầy tôi tham gia hội này từ năm 1942. Sau này mới biết là Nông Hội Đỏ.
     1943 mẹ tôi sinh thêm con trai út, đặt tên là Nguyễn Thụ. Đến khi đi học cấp I đổi thành Nguyễn Minh Châu.
     Cách mạng tháng tám 1945 nghe trống dục liên hồi cả làng mít tinh cướp chính quyền, Nông Hội Đỏ là nòng cốt của lực lượng ấy. Thầy tôi cũng là thành viên tích cực của những cuộc biểu tình mít tinh kéo nhau xuống phủ cướp chính quyền. Chính quyền cũ tan rã.
     Cách mạng tháng tám thành công, nhà nhà đều phấn khởi, chính quyền mới tỉnh, huyện được thành lập. Xã cũng vậy. Sau khi thành lập xã Hạnh Viên gồm làng Hiệu Thượng, làng Tú Mỹ  và làng Nghi Lộc, rồi bàu Ủy ban kháng chiến Hành chính xã Hạnh Viên, thầy tôi trúng cử chức Chủ Tịch.
     Công việc ban đầu của UBKCHC xã Hạnh Viên là ổn định xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Thành lập các tổ chức dân quân, du kích, đoàn thanh niên cứu quốc, hội phụ nữ, đội thiếu nhi. Già trẻ lão ấu đều có đoàn thể của mình, sinh hoạt rất sôi nổi. Công tác sản xuất nông nghiệp, trồng rau màu được đẩy mạnh để chống đói, nhất là xóa mù chữ cho nhiều người, các lớp học bình dân học vụ được mở ra ở từng thôn xóm. Để chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội khóa đầu tiên ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn dân nô nức học chữ quốc ngữ. Phong trào bình dân học vụ lên cao, Thanh niên biết chữ trong làng đều hăng hái dạy học. Để cuộc bàu cử quốc hội khóa I đạt kết quả. Dân quân du kích đội ngũ chỉnh tề, tập đi đều bước, tập đứng nghiêm, quay trước, quay sau, quay trái , quay phải khi có khẩu lệnh của chỉ huy. Mỗi người trang bị 1 cây gậy tre dài 1,6m, có người có mũ ca lô, một mũi giáo sáng lòa cắm chặt vào đầu gậy. Tuy quần nâu áo vá, có người chỉ có quần đùi, chân đất, ai mặc quần dài thì dùng dây thắt túm dưới gấu quần gọi là quần gôn. Ai đứng vào hàng ngũ ấy đều thấy tự hào và trông oai lắm. Khi người chỉ huy hô: Việt Minh thì mọi người đồng thanh hô: Vạn Tuế (nghĩa là Việt Nam muôn năm). Khi người chỉ huy hô: Dô Ta – tất cả hô vang: (nghĩa là Đoàn kết) Mỗi khẩu hiệu hô 3 lần. Tiếng hô vang vọng tràn ra xóm làng làm lòng người phấn chấn, quên đi cái đói cái rét đang hiện hữu. Những năm đầu sau C/m tháng tám 1945 là như vậy, vui lắm, phấn khởi lắm. Nhiều hôm dân quân du kích ngủ tập trung qua đêm tại đình làng hoặc nhà ai đó có sẵn ổ rơm ổ rạ ấm áp. Sáng dậy sớm chạy quanh làng, vừa chạy vừa hô khẩu hiệu Việt Minh – Vạn Tuế, Đô Ta – Hè rất vui. Khí thế cách mạng ngày càng lên cao.
     Tham gia hoạt động trong Nông Hội Đỏ và Mặt trận Việt Minh suốt từ năm 1942 đến năm 1948 Thầy tôi được kết nạp vào Đảng. Tuy lúc ấy Đảng đang hoạt động bí mật, nhưng hàng loạt đảng viên mới được kết nạp. Anh Thái và Chị Danh tôi cũng được vào Đảng thời gian đó. Đảng trực tiếp lãnh đao phong trào kháng chiến kiến quốc ở địa phương thông qua tổ chức Nông Hội và Mặt Trận.
     Khoảng năm 1949 huyện nhập 4 xã Viên, Hoa, Hạnh, Quảng thành xã Trung Diễn, thầy tôi phu trách thuế và bình dân học vụ. Sau vài năm lại nhập mấy xã nữa thành xã Quảng Châu gồm 31 thôn tất cả. Thầy tôi vẫn làm 2 nhiệm vụ trên trong phạm vi 31 thôn.
      Mọi nhiệm vụ được giao thầy tôi đều hoàn thành, xứng đáng là một Đảng viên tiêu biểu của Đảng, không có điều tiếng gì.
      Do ruộng đất ít, nhà nghèo nên năm 1948 gia đình tôi nhận 3 sào ruộng rẽ của ông Trùm Dương, nhà ở xóm Cao Vương ( xóm Chùa ). Mỗi khi gặt lúa phải mời người nhà ông này giám sát xem gặt được bao nhiêu gồi, bao nhiêu lượm, bao nhiêu gánh, trừ đi lượng lúa làm giống 5% còn lại chia đôi và gia đình tôi phải gánh đến tận nhà trả cho họ.  Tất nhiên thuế má nhà tôi phải nộp. Có một lần tuy còn nhỏ tôi cũng cùng gánh thóc đến nhà nộp tô cho chủ ruộng.
     Năm 1953 nhà nước chủ trương giảm tô 25% nghĩa là gặt được mười phần chia làm 4 , ¼ đó của tá điền cày rẽ được hưởng, còn lại ¾ chia đôi, người có ruộng một phần, tá điền một phần. Đến cải cách ruộng đất 1955 nhà tôi được chia luôn 3 sào ruộng ấy. Được cắm thẻ nhận ruộng ai cũng vui. Không khí trong thôn rộn rã tiếng cười…
      Cũng năm cải cách ruộng đất, thầy tôi bị xóa tên khỏi Đảng vì có người tố cáo theo dõi bắt ông Bùi Tự Cường, nhưng năm 1943 ấy thầy tôi đã nghỉ 2 năm trước. Với lại ban đêm do đói kém nên kẻ trộm trong làng cũng như các làng khác mò vào làng mình rình rập bắt trộm gà, trộm rau màu, tuần đinh đi tuần chống trộm cho dân lại nghĩ có kẻ rình mò để bắt cộng sản. Lúc đó người ta tố sai chẳng ai có thể thanh minh được. Thôi thì cây ngay chẳng sợ chết đứng, thầy tôi chỉ tin có vậy. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại được  phục hồi trở lại do bị tố oan. Thầy tôi thở phào nhẹ nhõm và nói rằng đúng là trời có mắt. Cũng may tuy làm lý trưởng nhưng thật chẳng có gì, nhà tranh vách cót, thiếu đất, cày thuê làm tá điền cho địa chủ, nhưng lúc đó thầy tôi cũng hoang mang lắm. Về sau quy thành phần được xếp vào trung nông lớp dưới bị bóc lột. Anh Thái tôi ở  riêng, có 2 mảnh vườn, không có trâu bò nên xếp vào thành phần bần nông.
      Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp thầy tôi được nhận huy hiệu kỷ niệm kháng chiến, sau này được nhận huy chương kháng chiến hạng nhất.
      Khi thành lập HTX nông nghiệp, thầy tôi được bàu vào ban quản trị phụ trách kế toán và tham gia một số công tác khác ở địa phương. Cho đến năm 1970 thầy tôi mới nghỉ hoàn toàn, không tham gia công tác gì nữa, ở nhà trồng trọt chăn nuôi, làm thợ nề, thợ mộc giúp bà con xây dựng nhà cửa ( lúc đó cụ đã 70 tuổi ).
     Năm 1987 mẹ tôi qua đời, thọ 87 tuổi.
     Năm 1992 thầy tôi qua đời, thọ 93 tuổi.

      Các con đến tuổi trưởng thành xung phong vào lính đánh giặc như ông Thái, ông Bình, ông Châu đều trở thành Đảng viên của Đảng, Được phân công những công việc trọng yếu phù hợp với trình độ văn hóa mỗi người. Còn tôi, sau khi học xong khóa trung cấp Thiết kế kiến trúc 3 năm, năm 1962 tôi ra trường được phân công về viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc, được xếp vào tổ Thiết kế những công trình đặc biệt cho Trung Ương và Chính Phủ. Làm bí thư chi đoàn và là ủy viên BCH Đoàn Viện Thiết kế. Năm 1965 được kết nạp vào Đảng. Năm 1966 được cử  học đại học Xây Dựng. Năm 1971 tôi là một trong 2 học sinh tốt nghiệp loại giỏi của khóa học ấy. Năm 1973 được điều động về công trường 75808 trực tiếp thi công Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi kết thúc công trình tôi về lại cơ quan cũ làm KS thiết kế kết cấu Viện Thiết Kế Dân Dụng BXD…
     Năm 1980 tôi được Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên bổ nhiệm Phó Giám đốc xí nghiệp và biệt phái về xây dựng nhà máy điện Phả Lại, sau đó làm Giám Đốc Trung tâm KTKT xây dựng. Năm 1988 được cử đi I Raq 2 năm, năm 1991 về nước làm Trưởng phòng kỹ thuật và quản lý dự án của VINACONEX - 6 cho đến lúc nghỉ hưu năm 2003.

     Nghĩ về người cha, tôi thầm biết ơn cụ đã để lại cho chúng tôi nếp sống, nếp nghĩ của những nhà nho thuở trước, luôn luôn tôn trọng sự thật, lấy đạo đức của người chân chính để học tập rèn luyện. Chúng tôi thật tự hào và không hổ thẹn với người cha thân yêu của mình…

  Hà Nội  ngày 22 - 4 – 2016

 Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

lăng mộ đá toyota thanh hóa