Nhân dịp facebook cho tôi xem lại bài thơ sau 1 năm đưa lên mạng. Với cảm xúc sâu lắng tôi viết thêm mấy dòng mang đầy tính nhạc với khổ thơ sau:
KỶ NIỆM
Năm mươi năm bên nhau
Ta nhăc lại tình xưa
Dù thời gian như thoi đưa
Bao ký ức chẳng phai mờ.
Tình như một bài thơ
Ngọt bùi hoa thơm muôn thuở
Bao sóng cồn xôn xao
Vẫn giữ một đời có nhau..
NĂM MƯƠI NĂM ẤY CÙNG EM
Ngày vui con nhắn tin về
Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu
Xa gần mình ngại chi đâu
Biết răng là được biết lâu là dừng.
Thương con nhớ cháu vô chừng
Tui đi thăm nó khi ưng thì về
Tỉnh ngoài không nói mô tê
Quê ta như rứa ai chê mặc người.
Cháu tui đầy cữ hôm rồi
Bữa ni bà mới rảnh rơi lên tàu
Một toa đầy tiếng Diễn Châu
Không quen cũng biết bạn bầu đồng hương…
Cách nhau mấy chục xuân đời
Mà em vẫn hớp hồn tôi một chiều
Lắng lòng chi lắm thương yêu
Mắt chìm trong mắt nói điều ngẩn ngơ.
Đã là hoa mận hoa mơ
Mà sao vẫn đợi vẫn chờ tình ai?
Tháng Tư ngày rộng tháng dài
Cho loa kèn trắng nở ngoài bến sông,
Ngược đời Nam Bắc Tây Đông
Vẫn còn năm đợi mười mong một người
Ỡm ờ chi hỡi sao rơi
Cho tình chưa trọn một đời vì yêu…
Anh gặp em từ buổi chiều tà
Tiếng khép cửa làm cả hai bối rối
Kẻng tan tầm làm anh thêm vội
Đã hẹn hò không nỡ để chờ lâu.
Quý vô cùng những giây phút bên nhau
Bức thư tình in một thời khao khát
Giọng nói êm đềm tròn như nốt nhạc
Như tiếng tơ lòng thánh thót phút mộng du.
Em biết không? Trời đã sang Thu
Quả thị chín báo mùa chim ngói đến
Lúa vàng bông cả cánh đồng hò hẹn
Tình đôi ta đã chín với thu vàng…
Ban ngày bận rộn lo toan
Cuối giờ ngơi việc lại bàn tắm đêm
Chung chiêng thân gái yếu mềm
Thử cơn sóng dữ giữa thềm biển đông.
Thả mình vào nước xanh trong
Tấm thân ngà ngọc thơm trong hương nhài
Chị Hằng rời chốn bồng lai
Nổi ghen: Ai dám so tài chi đây?
Trời đêm gờn gợn tóc mây
Đôi chân trắng mịn phô bày lên cao
Một vùng trời đất xôn xao
Sóng chân, sóng nước sóng nào hơn thua…
( Sầm sơn ngày 10 tháng 6 năm 2019)
(Thơ vui, Tặng KTS Vũ Đình Phàm)
Mấy hôm nay vợ vắng nhà
Cháu con về ngoại thành ra một mình
Buồn vì đồ đạc linh tinh
Đi về một bóng một hình cô đơn
Sớm chiều bạn với mỳ tôm
Bánh đa Chũ, cộng hành thơm qua ngày.
Hôm nay mời bạn đến đây
Trước là gặp mặt sau say rượu nồng
Một can ba lít nếp đồng
Chén anh chén chú thỏa lòng mới thôi.
Bánh chưng xanh vợ làm rồi
Thêm con gà đồi quán thịt sáng nay
Cua đồng năm lạng chợ xay
Phú Đô bún trắng quê này nổi danh
Rau thơm, rau sống, răm hành
Giò heo mấy lạng đã thành tiệc to
Muối chanh, gà chặt mình lo
Bún cua một bát trao cho mỗi người.
Bảy ông đũa gắp miệng cười
Hả hê nâng chén rượu mời lên môi
Có gà ắt phải có xôi
Rượu vào nhất định nói lời thẳng ngay
Mấy ông hăng hái tỏ bày:
-Đời tôi dăm bận qua tay đàn bà
Cụ ngồi đối diện thốt ra
-Riêng tôi không biết đã qua bao người?
Ông ngồi cạnh tủm tỉm cười
-Đời tôi chỉ một, vợ tôi riêng mình…
Chuyện như pháo nổ sân đình
Quên luôn bún nguội, tanh tanh cua đồng!
-Nấu quên gia vị hả ông
Mắm tôm, bỗng rượu sao không cho vào?
Thịt cua ông lọc thế nào?
Chắc dùng rá nhỏ chao chao mấy lần!
Lòng còn tự hỏi nguyên nhân
-Đúng rồi! Nồi bún thiếu chân đàn bà!...
Nhưng thôi chuyện ấy bỏ qua
Bún không ngon nhưng vẫn là đáng yêu
Cám ơn ông bạn thật nhiều
Chung trường, chung viện chung đều trai quê…
Hà
Nội 2018
( Ghi chép của Nguyễn Quang Huệ )
Tôi được cháu trai thông báo: Ngày mồng 6 tháng chạp năm nay (2019) gia đình sẽ sang mộ cho bố cháu ( ông Nguyễn Bình là anh trai tôi ). Ông là cựu chiến binh, đi bộ đội từ năm còn đánh Pháp (1951). Anh tôi đã chiến đấu qua các chiến trường Hà Nam Ninh, Đường 6 Hòa Bình, Điện Biên Phủ. Các năm chống Mỹ, ông được điều động làm chuyên gia quân sự cho Lào. Đơn vị của ông Bộ Tư lệnh Quân khu II vùng Phú Thọ - Sơn La. Sau khi tốt nghiệp Học viện Hậu Cần quân đội là Phó Giám đốc, Chủ nhiệm hậu cần Bệnh viện Quân y 6. Năm 1980 về hưu với cấp bậc Thiếu tá. Sau nghỉ hưu ông đưa cả gia đình về quê hương sinh sống. Năm 2013 ông qua đời do tuổi cao, thọ 82 tuổi...
Đến ngày hẹn với cháu, tôi lên xe về quê. Tuy trời
mùa Đông nhưng thời tiết ấm áp, khô ráo thuận lợi vô cùng. Đi trên chuyến
xe giường nằm từ bến Nước Ngầm lúc 8h 30 khởi hành về đến ngõ chỉ 5 tiếng, trên quãng đường ngót hai trăm sáu mươi cây số.
Hà
Nội - Diễn Châu trước đây xa vời vợi. Ngày tôi nhập học ở Hà Nội cũng quãng đường
ấy đi mất trên 12 tiếng vì nhiều phà qua sông, đường số 1 lúc ấy chật hẹp. Mặt
đường có đoạn rải đá cấp phối, do trong kháng chiến chống Pháp người ta phá đường
để ngăn quân Pháp không vào khu Bốn, nhất là từ Thanh Hóa trở vào. Có đoạn bê
tông nhựa của đường cũ. Đoạn nào bằng phẳng xe chạy chỉ được 40 km trên một giờ,
đoạn nào đường xấu thì tốc độ chỉ nhanh hơn xe đạp. Xe chạy càng nhanh bụi đất
càng cuốn lên sau xe mù mịt. Tốc độ xe lúc ấy có nhiều nhặn gì đâu. Quãng 30
km/ giờ. Chuyện đó cách đây đã 60 năm (1959 )…
Về đến nhà mọi việc đã được các cháu chuẩn
bị sẵn sàng. Một cái tiểu sành men màu xanh ngọc với hoa văn khá đẹp, vuông vải
đỏ bọc hài cốt, nước ngũ vị hương thơm phức để rửa hài cốt, một cái bàn con bằng gỗ mới gia
công dùng để đặt tiểu sành khi làm lễ, cùng hoa quả bánh kẹo đủ cả. Tại nghĩa địa đã
chuẩn bị chăng dây treo bóng điện và máy nổ. Thầy cúng chẳng ai xa lạ, chính là
con rể cả của ông nói rằng giờ tốt là giờ sửu từ 1 giờ đến 3 giờ sáng ngày mồng 6 tháng chạp năm Kỷ Hợi là phải làm
cho xong, hoàn tất mọi việc.
Đúng 1 giờ đêm, hai người thợ vạm vỡ khỏe
mạnh có thâm niên việc bốc mộ hàng chục năm nay vào việc chóng vánh. Khu nghĩa
địa là vùng cát pha nên việc đào bới không mấy vất vả như nơi khác. Quan tài dần
dần lộ ra. Con cháu tập trung rất đông quanh mộ chờ đón lúc thiêng liêng gặp
ông sau 7 năm vắng bóng.
Sau khi vét gọn sạch sẽ đất cát trên mặt
quan tài, hai người thợ nghỉ mười phút uống rượu, ăn trầu chuẩn bị vào công việc
trọng đại nhất: Bật ván thiên và làm những công việc tiếp theo…
Nhưng khi bật ván thiên ra, một hiện tượng
lạ đập vào mắt mọi người: Một lớp xốp như bông, phủ đầy quan tài một lớp tuyết
trắng trên bề mặt thân thể ông. Đồng thời một luồng khí rất hôi tỏa ra chung
quanh mộ. Mọi người sợ hãi chạy tản ra quanh đó. Giữa đêm khuya chỉ có một bóng
đèn, chung quanh trời tối trên bãi tha ma ấy trong một đêm đông lạnh giá có ai không sợ cho được. Hai phu mộ cũng sợ, tản ra cách đó gần chục mét, vơ vội
những gì cháy được gom lại thành đống to và đốt. Hơi lửa, hơi khói đã làm mọi người
trấn tĩnh lại, bàn luận sôi nổi cách xử lý thế nào cho đúng.
Theo hai người phu mộ kể: hành nghề hàng chục năm nay họ chưa gặp hiện tượng này
bao giờ và phán rằng đây thật sự là ngôi mộ đang phát. Nên đậy nắp lại, xây cố
định bằng gạch. Đứng trước một quyết định khó khăn cấp thiết như thế, mỗi người
mỗi ý thật khó mở lời, trông chờ quyết định của con trai ông. Một số anh em con
cháu đang làm ăn thuận lợi chỉ muốn đậy nắp lại, xây vĩnh viễn, nhưng có ý kiến
khác cho rằng: Việc đã lỡ dở thế này phải bốc triệt để. Ý kiến của tôi ủng hộ
con trai ông: Cứ bốc đi vì việc xây mộ mới tại nghĩa trang dòng tộc đã làm. Hai
phu mộ cố gắng hoàn tất để chuyển ông vào chung khu với Tổ tiên là tốt nhất.
Trước đòi hỏi như vậy hai người thợ lại
tiếp tục công việc. Cũng may, sau nửa tiếng lớp tuyết phủ đã bớt đi, mùi hôi thối
đã giảm nhiều nên thợ có động lực mạnh mẽ hơn. Trước đây khi nhập quan, gia
đình mặc cho ông bộ com lê còn mới nên phần thịt da phía mông đùi phải gỡ vì chưa tiêu hết. Vất vả nguy hiểm là vậy nhưng hai người thợ tỏ ra chu đáo không
kêu ca nữa. Chúng tôi biết ơn họ vì đã làm việc đến nơi đến chốn. Tiền công có
thể tăng lên chút ít nhưng cao cả nhất là tình cảm của hai người đối với gia
đình chúng tôi.
Lau rửa, xếp hài cốt vào tiểu xong, hai
phu mộ ở lại hoàn trả mặt bằng cho xóm. Con cháu đưa ông về khu nghĩa trang họ
tộc làm lễ hạ huyệt đã xây sẵn. công việc chóng vánh. Chỉ lấp cát, xây mấy
hàng gạch rồi úp những tấm đá đã gia công, úp mái là xong. Mặc dù có sự cố, thế nhưng mọi việc đã hoàn tất đúng thời gian thầy cúng đã định. Sau đó chừng một tiếng, trời đổ mưa to đến suốt cả ngày hôm sau. Mọi việc trôi chảy, thật may mắn, hình như mọi điều được ông phù hộ. Thật gặp may "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" làm
cho ai cũng vui mừng…
Có một điều thú vị thế này: sáng mồng 5
tôi đang nằm trên xe về quê, anh bạn tôi là Kiến trúc sư Doãn Quang Tuấn gửi
cho tôi một video bằng messenger ghi lại buổi bên khảo cổ khai quật một ngôi mộ
cổ đã 300 năm tại Hà Nội. Sau khi đào xong các lớp đất, mở quan tài thấy người
xưa bọc thi thể bằng nhiều lớp vải nên gỡ ra rất lâu. Thi thể còn nguyên vẹn.
Sau khi các chuyên gia lấy các mẫu vật cần thiết, người ta đặt lại thi thể
trong quan tài cũ rồi chôn lấp tại đó. Tôi băn khoăn về chuyện trùng hợp này. Dù
sao được xem video của bạn, tôi cũng hình dung được phần nào công việc sang mộ cho anh
trai tôi. Kiến trúc sư Doãn Quang Tuấn không hề biết tôi có việc tương tự như thế vì lâu
lắm rồi chúng tôi không liên lạc với nhau.
Một sự tình cờ nhưng thật có lý để tôi
nghĩ tới sự linh thiêng mà duy vật chưa giải thích được…
(Cám ơn facebook đã cho tôi ôn lại bài thơ này)
Mấy chục năm rồi, nhớ nhà, nhớ quê vô cùng mặc dù năm nào cũng về thăm quê một đến hai lần. Nhớ cha mẹ, anh chị em đến nao lòng, luôn mong ước một giây phút được tái hiện lại cảnh sum họp đầu đời với cha mẹ, anh chị cách đây hơn bảy mươi năm về trước...
( Bài viết của Nhà thơ Quang Hoài ) Đại tá Quân đội, Hội viên Hội Nhà văn VN.
Tình yêu và
nỗi nhớ đằm thắm một tình thơ chân mộc.
( Đọc "Tuyển
tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ” của nhà thơ Nguyễn Quang Huệ )
Nguyễn Quang Huệ làm thơ từ những ngày còn là một chàng trai
ngồi trên ghế giảng đường đại học. Công việc của một kĩ sư xây dựng đã cuốn hút
anh với niềm say mê mới, tưởng như hứng khởi thi ca đã tắt trong lòng. Nào ngờ,
từ sau nghỉ hưu, nàng thơ lại trở về
đánh thức và giục giã niềm say mê thời trẻ của anh. Và thơ ca lại đến với trái
tim nhạy cảm của anh như một duyên nợ không thể dứt tình. Chỉ trong vòng hơn
hai mươi năm, anh đã cho ra mắt bạn đọc mười một tập thơ, trong đó có năm tập
thơ anh viết cho lứa tuổi học trò.
Nguyễn Quang Huệ là
một nhà thơ gặt hái được khá nhiều thành công trong lĩnh vực viết cho lứa tuổi
hồng, một lứa tuổi hết sức ngây thơ và hồn nhiên trong sáng. Với năm tập thơ viết
cho lứa tuổi này: Gà mẹ gà con, Chuyện gấu và mèo, Dê trắng dê đen, Công chúa ếch
và Bắc cầu vồng xuất bản trong những năm gần đây, đúng như nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo đã nhận định: “…đã làm sinh khởi cho không khí thơ viết cho thiếu nhi ở ta
hiện nay vốn nhiều năm quá bình lặng. Không có một tâm hồn trẻ thơ trong con
người thất thập ấy thì không thể viết ra được những tập thơ như thế…”
Đó là sự khẳng định
về thơ viết cho thiếu nhi của anh. Còn viết về người lớn và cho người lớn thì
sao? “Tuyển tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ” ra mắt bạn đọc nay mai sẽ trả lời câu
hỏi này. Giờ đây trên tay tôi là bản thảo tập thơ đó. Tôi xin nói đôi điều về
những cảm nhận của mình trước khi tập thơ được xuất bản, ra mắt bạn đọc.
Tuyển tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ là một tuyển thơ được Nguyễn Quang Huệ lựa chọn theo ý thích của riêng mình từ năm tập thơ đã xuất bản: Dòng sông ký ức, Cánh én mùa xuân, Chợ quê, Ba bậc thềm nhà, Cửa khép hờ và một số bài thơ anh mới sáng tác gần đây. Đây chưa phải là toàn bộ thơ Nguyễn Quang Huệ viết về người lớn và cho người lớn, mà chỉ là một phần đời của thơ anh, một phần diện mạo anh. Nhưng đó là phần quan trọng nhất, phần sâu kín nhất của tâm hồn anh, được hội tụ từ các bài về một chủ đề: Tình yêu và nỗi nhớ.
Gần trăm bài thơ trong tuyển thơ này như những lát
cắt cuộc đời nhỏ lẻ hợp thành một lát cắt lớn thể hiện phần cơ bản nhất dung mạo
tinh thần tâm hồn nhà thơ Nguyễn Quang Huệ. Theo tôi phần cơ bản đó chính là một
tiếng thơ lão thực ẩn chứa một trái tim trong sáng và đôn hậu, được thể hiện bằng
những lời thơ mộc mạc, giản dị, đôi khi ít dụng công gọt rũa, thổi xao kỹ lưỡng,
nhưng hết sức tha thiết và chân thành. Tôi thiết nghĩ chúng ta đồng cảm và sẻ
chia với Nguyễn Quang Huệ chính là đồng cảm và sẻ chia với tiếng thơ đó, với phần
tâm hồn đó của anh; đồng cảm và sẻ chia với Tình yêu và nỗi nhớ đằm thắm với một
tình thơ chân mộc, chứ không phải ở sự dụng công ngôn từ, hình ảnh, hình tượng
hay thi pháp thơ hiện đại. Chỉ như vậy cũng đã là một tiếng thơ rất đáng quý và
đáng trân trọng. Tôi quý thơ anh chính là quý tiếng thơ đó.
Đây là hình ảnh một bà mẹ Diễn Châu từ nhà
quê xứ Nghệ ra đô thành thăm cháu “ mang cả giọng quê lên tàu” được diễn tả qua
hai khổ thơ bằng lời chân mộc của mẹ:
“Thương con
nhớ cháu vô chừng
Tui đi thăm
nó khi ưng thì về
Tỉnh ngoài
không nói mô tê
Quê ta như rứa
ai chê mặc người.
Cháu tui đầy
cữ hôm rồi
Bữa ni bà mới
rảnh rơi lên tàu
Một toa đầy
tiếng Diễn Châu
Không quen
cũng biết bạn bầu đồng hương…”
Những câu thơ
giản dị thật thà rất mực, không hề có chút kỹ thuật tân kỳ, cứ tự nhiên như được
thốt ra từ tấm lòng của mẹ mà tha thiết ân tình, đậm đà tâm hồn xứ Nghệ. Yêu biết
bao “ Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu” !
Đây là “ Chợ quê” nơi hội tụ bộ mặt văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần của làng quê Việt. Với Nguyễn Qua ng Huệ, đó còn là nơi gặp gỡ,
đoàn tụ bạn bầu, chia sẻ nhớ thương. Mặc dù ‘Chợ quê’ chỉ có: “ Rổ rau mẹt cá mớ
tôm / Đôi ba hàng thịt, dăm con lợn gà / Vài ba chục trứng bày ra…” nhưng đó là
nơi: “Trước là gặp bạn, sau là đổi trao”. Và thật dung dị khi anh bộc lộ tâm
tình của người quê đi chợ, không còn là nơi buôn bán trao đổi nữa, mà là chợ
tình nghĩa, chợ tình người:
“Tiền nhiều mặc những đẩu đâu
Chợ quê góp nhặt lá trầu quả cau
Cảnh quê nghèo túng có nhau
Không đi nhớ bạn nhớ bầu lại đi…”
Những câu thơ lục
bát rất mòn mà sâu lắng, mà da diết, ai bảo chỉ có thánh thót du dương?
Đây nữa, “Ba bậc thềm nhà”, lại lục bát, nơi không ai sinh trưởng ở làng
quê Việt lại không gắn bó thiết tha mặn nồng như cánh cò , cánh võng, bờ tre, bến
nước, sân đình…Nguyễn Quang Huệ phát huy sở trường lục bát dân giã của mình:
“Thân thương ba bậc thềm nhà
Đi vào bao lượt đi ra bao lần
Mỗi ngày mấy chục bước chân
Hết lên lại xuống, ngay sân nhà mình.
Ung dung như chốn cung đình
cội nguồn , quên nơi chôn rau cắt rốn,
cũng có nghĩa là không được quên gốc gác, truyền thống tổ tiên từ “Ba bậc thềm
nhà”
“ Từ sĩ tốt đến quân vương
Nào ai quên lúc náu nương thềm nhà
Ngàn đời từ thuở ông cha
Nhà mình mình ở, thềm mình mình đi
Đậu nghè bái tổ vinh quy
Cũng từ chập chững cô dì đỡ nâng”.
Đó không chỉ là nơi “mình ở” , “mình
đi” ung dung tự tại thoải mái, không chỉ là nơi trở về “bái tổ vinh quy” khi
thành danh, thành tài, mà còn là nơi “đỡ nâng” chắp cánh cho con người đi ra với
cuộc đời rộng lớn. Bài thơ nhắc nhở nhẹ nhàng mỗi người không bao giờ được quên
Lớn khôn, khờ dại từ ba bậc thềm”.
Câu chữ hết sức mộc mạc, giản dị, mà ý tứ thâm sâu khôn cùng.
Từ “ Ba bậc thềm nhà ấy, cái “ Chợ quê” ấy Nguyễn Quang Huệ liên tưởng
nhắc nhở chính mình mà động đến tâm hồn bao người ra đi “từ lũy tre làng” mỗi
khi “xa quê”:
“Ra đi từ lũy tre làng
Trai quê lên phố đa mang cuốc cày
Từ ngày xa ruộng đến nay
Tay chai đã lặn để thay bút cầm”.
Nghĩa là nghề nghiệp, chức phận có thể
đổi thay, nhưng tấm lòng con người “trai quê” thì không thể đổi dạ thay lòng, dầu
cho:
“Sáo diều xa vắng bao năm / Bờ xôi ruộng mật
đã nằm vào tranh”. Dầu cho:
“Tưởng quê là mảnh đất lành”, nhưng
cánh chim không đậu mà bay đến thành phố phồn hoa đô hội để rồi “Nào ngờ lên phố
ẩn danh cả đời”. “Xa quê” là sự thổ lộ tấm lòng của tác giả đối với quê hương bản
quán, nơi sinh dưỡng mình từ thuở nằm nôi. Đó cũng là một nét văn hóa đậm đà bản
sắc dân tộc, một khi người ta không “vong quê, vong quốc”. sự chân tình của tác
giả trong ý thơ sâu lắng của anh đã chinh phục tôi về sự gợi mở một giá trị của
văn hóa dân tộc mà ngày nay đang có nguy cơ mai một.
Cuối cùng không thể không nói đến thơ Nguyễn Quang Huệ viết về tình yêu. Nào là “Chum nếp”: “Mấy năm chum nếp vẫn đầy / Chỉ chờ cánh thiếp tung bay gọi mời”, để rồi “Công chum chờ đợi bao ngày / Xin đừng trách mối tình này làm chi”. Nào là “Tiễn nàng”: “Thế là nàng đã sang sông / Nàng đi lấy chồng tôi ở lại sau”, để rồi “Tình yêu như một đóa hồng / Nhưng còn gai nhọn mà không trọn lời”, nào là “Rượu tình” kể về một cô gái Ba Vì mời về uống rượu trong khi cô ở ngay Hà Nội, rất gần mình “Giữa lòng Hà Nội thân quen / Sao em không ngỏ chút men mơ màng”, nhưng cái dáng người và đôi mắt nàng đã hút hồn anh “Cao cao dáng ngọc thon đầy / Mắt nhìn gom hết trời mây vào mình”, để rồi nhà thơ mơ màng trách cứ vẩn vơ trong khát vọng yêu đương “Em xinh là của mọi người / Ba Vì có rượu em mời những ai?... Rượu lòng chưa uống đã say / Rượu tình chỉ một chén này ngả nghiêng…” v/v. và v/v…
Chung quy lại, trong thơ tình Nguyễn Quang Huệ luôn luôn thấp thoáng một
bóng hồng, gần và xa, xa và gần, tưởng với tới mà không thể với tới, tưởng bắt
được mà không thể bắt được, trở thành khao khát, trở thành đợi mong nhưng vẫn cứ
muốn được mãi mãi “Một lòng bên anh” như một hoài cảm, như một vọng ước. Ước muốn
của em thật cao đẹp, mang đầy tính nhân văn, nào là “Em muốn là dòng sông / Cho
thuyền anh xuôi ngược”, nào là “Em muốn là nhành hoa / Tỏa hương thơm dìu dịu”,
nào là “Em muốn là thinh không / Cho lòng anh tĩnh lặng”, nhưng cuộc đời đâu chỉ
có màu hồng, bởi em đâu là gió, là dòng sông, ngọn cỏ, là hoa, là thinh không
nên em vẫn phải trở về chính em:
“Nhưng thương anh mặn nồng
Như lòng em vẫn ước
Dù anh không nhận được
Vẫn một lòng bên anh…”
Đó là lời cô gái hay chính Nguyễn
Quang Huệ hóa thân làm cô gái để giải tỏa tâm tình của mình? Có lẽ chính Nguyễn
Quang Huệ mới biết rõ nhất. Nhưng bong hồng và một tình yêu đơn phương với những
nhát đợi thì luôn ẩn hiện, day trở trong thơ anh.
Tôi xin khép lại bài viết của mình ở
đây. Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Quang Huệ với “Tập tuyển thơ TÌNH YÊU VÀ NỖI
NHỚ” như một chùm quả đầu mùa đang dần chín và tỏa hương thơm. Hy vọng bạn đọc
sẽ tìm được và đồng cảm với tuyển tập thơ này.
Phố Vương Thừa Vũ Hà Nội ngày 21
tháng 5 – 2019
Quang Hoài
(Hội viên Hội nhà văn VN).
Sắp tới ngày kỷ niệm 35 năm số Tạp chí "Người Xây Dựng" ra số đầu tiên (1986 - 2021). Tổng Biên tập tạp chí: Nhà báo Nguyễn Xuân Hải gọi điện cho tôi:
- Nhà thơ cố gắng viết cho một bài để đăng vào số kỷ niệm này. Là một cộng tác viên tôi nhận lời ngay. Sau hai ngày tôi gửi ông hai bài: MỘT CHẶNG ĐƯỜNG và bài BA BẬC THỀM NHÀ, Ông gọi lại sẽ đăng bài Một Chặng Đường, còn lại bai Ba bậc thềm nhà để lại đăng vào số Tết cho nó oách.
Tôi trả lời vậy thì tùy Tổng Biên tập. Nhưng bài Ba bậc thềm nhà đươc các nhà thơ và các Kiến trúc sư khen ngợi.
Một Chặng Đường
Ba lăm năm một chặng đường bền bỉ
Từ số đầu tiên cho đến hôm nay
Nắng đổ mưa tràn giá buốt đổi thay
Vẫn giữ tay chèo cùng NGƯỜI XÂY DỰNG.
Tạp chí mới mỗi ngày mỗi rạng
Đưa nhanh tin nóng hổi bao miền
Từ quê nghèo đến thành phố bình yên
Từ trong nước đến khắp miền thế giới.
Những đô thị yên vui, những công trình xây mới
Những ước mơ thay đổi cuộc đời
Những lâu đài to đẹp muôn nơi
Đều có mặt trong từng trang tạp chí.
Thành quả con người qua bao thế hệ
Đúc kết thành bài học mai sau
Vui cùng Tạp chí thân yêu
Ba lăm năm tiếp bao điều chờ mong...
Hà Nội ngày 10 tháng 9 năm 2021
Diễn Hạnh ơi mắm mặn tự thuở nào
Vào mâm cơm thêm đậm đà cà muối
Rau ngoài vườn xanh non tơ mời gọi
Luộc hay xào có từ buổi hồng hoang.
Vị ngọt bùi mắm cáy chấm rau lang
Cơm độn khoai nuôi anh hùng, thi sĩ
Rẻo cát pha ươm mầm thêm mùi vị
Của quê nhà không lẫn được nơi đâu.
Chim sẻ về làm tổ mấy hàng cau
Mẹ chăm chút dàn trầu xanh biếc
Đất quê ta qua một thời oanh liệt
Đã xây nên bao sự tích anh hùng.
Đường làng giờ xe chạy rộng ung dung
Trường Trung học phổ thông ngay đầu xã
Con em ta như một vườn hoa nở
So với thị thành chẳng khác là bao.
Chuông nhà thờ dìu dặt nhả từng câu
Báo tin vui mỗi ban mai thức dậy
Tiếng cầu kinh rộn ràng từ Thu ấy
Như nhắc lòng gìn giữ lấy quê hương...
( Tản văn của Nguyễn Quang Huệ )
( Truyện ngắn của Nguyễn Quang Huệ )
