Chuyện về cụ Chủ Tịch Xã Hạnh Viên đầu tiên sau c/m tháng 8/ 1945



Cụ Nguyễn Vấn ( 1900 - 1992 )
I -  Thời niên thiếu và trai trẻ:
     Thầy tôi sinh năm 1900 ở xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An. Những lúc rảnh rỗi ông thường kể lại chuyện xưa về cuộc đời mình cho tôi nghe. Sở dĩ như vậy vì tôi hay hỏi chuyện cũ của cụ. Tôi nhớ rất lâu những chuyện ấy bởi trí tò mò và muốn sưu tầm những câu chuyện về gia đình mình. So với mấy anh em sinh ra, tôi được thưa chuyện với thầy tôi nhiều nhất.
Thầy tôi kể: Ông Nội tôi là Cụ Nguyễn Thê có 3 đời vợ. Bà thứ nhất  không có con, cụ lấy bà thứ hai sinh được người con trai là ông Nguyễn Tơn ( bố ông Đàn, Ông Lĩnh ) Sau đó cụ lấy bà thứ 3 là Trình Thị Độ. Bà Độ sinh ra thầy tôi và chị gái là Nguyễn Thị Thức ( mẹ ông Căn, ông Do ). Gia đình ông nội tôi tuy không giàu có gì nhưng cũng thuộc loại gia thế trong làng nên mới được gọi là ông Trùm Nội. Lớn lên chừng 8 tuổi ông  nội cho thầy tôi học chữ nho, chữ nôm do nhà nho Hồ Tiếu dạy. Nhà nho Hồ Tiếu người làng Quỳnh Đôi phủ Quỳnh Lưu vào dạy học ở làng tôi, làm rể làng tôi và sinh ra ông Hồ Tuân. Cụ luôn động viên thầy tôi cố gắng học và chăm làm việc. Cụ Hồ Tiếu là người bà con họ hàng gần với cụ Hồ Tùng Mậu và hơn cụ Hồ Tùng Mậu mươi tuổi vì cùng quê, cùng họ Hồ. Ông Nội tôi cũng động viên cứ chăm làm chăm học, đến mùa cụ sẽ thưởng cho mỗi bữa một bát cơm úp ( hai bát cơm úp làm một như bát cơm cúng, ở quê tôi vẫn làm như vậy ). Điều đó chứng tỏ nhà ông nội cũng nghèo, không đủ ăn nên phần thưởng cũng chỉ là bát cơm đầy mà phải cố gắng học tâp, làm việc thì đến mùa mới có. Phận làm lẽ nên sau khi có con bà nội tôi được ông nội làm cho một cái nhà tranh nho nhỏ ở góc vườn cho 3 mẹ con ở riêng. Thầy tôi là người rất sáng dạ, học thông viết thạo, chữ rất đẹp nên ai cũng khen. Mười sáu tuổi thầy tôi mới học chữ quốc ngữ kết hợp học cả chữ nho, chữ nôm. Chữ viết khuôn thước, không viết láu viết ẩu nên thầy giáo thích lắm. Tuy tuổi trẻ nhưng trong làng ai có việc bán ruộng bán nhà, mua bán trâu bò hoặc tài sản gì quý giá đều mời thầy tôi viết văn khế giao ước. Thời đó ai biết chữ, làm được văn tự như thầy tôi là hiếm lắm. Mười chín tuổi gia đình cưới vợ ( là mẹ tôi ). Vốn là con quan lục lộ, bà cũng xinh gái, kém thầy tôi một tuổi, (quê ở làng Nhân Trai xã Diễn Xuân). Tuy vậy do ông ngoại tôi mất sớm lúc bà ngoại mới hơn hai mươi tuổi, một mình ở vậy nuôi 2 con gái nhỏ dại nên mẹ tôi cũng vất và từ khi còn bé, do đó khi về làm dâu, thầy mẹ tôi  không nhờ vả bên nội, bên ngoại được gì nhiều. Vì ruộng đất ít, quanh năm làm đủ thứ nghề như kéo sợi, làm bánh đúc, trồng cây con, rau quả trong vườn rồi làm thợ nề, thợ mộc mới đủ sống.
     Năm 20 tuổi thầy mẹ tôi sinh con đầu lòng là ông Nguyễn  Thái, năm 25 tuổi sinh con gái là bà Nguyễn Thị Danh ( bà Dương ), Năm 32 tuổi sinh con thứ 3 là ông Nguyễn Bình. Con cái mỗi ngày một đông nên ngoài làm ruộng, kéo sợi, làm bánh đúc còn đi buôn bông, buôn hành từ Cầu Giát, Chợ Dàn về bán ở chợ Chùa, chợ Sở kiếm chút lời mua mớ khoai lon gạo. Những công việc đó do thầy tôi đảm trách. Cuộc đời vất vả từ bé đến lớn làm lụng nuôi con khó nhọc vô cùng.

II -  Khi trưởng thành:
     Năm 1930- 1931 phong trào  Xô viết Nghệ Tĩnh đã làm cho hệ thống chính quyền phong kiến ở các làng tan rã, sau đó phong trào bị đàn áp nhất là những làng không có lý trưởng đứng đầu. Để tránh họa cho dân, các cụ trong làng đã họp và cử thầy tôi và một người khác nữa để quan huyện chọn làm lý trưởng. Lý do các cụ đưa ra là chọn người hiền từ, có học, đức độ, nho nhã, ăn nói lưu loát ai cũng nể phục thì dân mới được nhờ. Xuống phủ, quan phủ bắt hai người chép một đoạn của tờ báo bằng chữ quốc ngữ và chữ nôm, chẳng biết để làm gì? Sau khi nộp bài quan huyện xem và chọn thầy tôi. Thầy tôi xin từ chối vì hoàn cảnh khó khăn, gia đình nghèo, đông con sợ không làm được để các quan quở trách. Nhưng quan phủ không chấp nhận, bị quát nạt còn bị đánh mấy roi. Tình thế không thể thoái thác, vậy là thầy tôi buộc phải làm lý trưởng từ đó…Chuyện này ông Trương Kỳ nguyên Phó Giám Đốc sở lao động Hà Nội vẫn thường nói chuyện với tôi. Ông Trương Kỳ là người Thừa Sủng cùng sinh hoạt chi bộ với thầy tôi cũng kể lại như vậy. Trong cả thời gian làm việc, thu thuế trong thôn vẫn thực hiện như bình thường. các nhà có ruộng tự giác nộp, mùa nào bão lụt mất mùa thì được giảm thuế, nhà nào khó khăn thì tuần đinh đôn đốc, chỉ nhắc nhở không gay gắt quát nạt. Khó nhất là thu sưu ( một loại thuế thân ). Những người nghèo không có tiền thầy tôi cũng cho qua và thuyết phục quan phủ rằng người ta nghèo không có miếng ăn nên phải đi ăn xin, tha phương cầu thực, đi miền núi Tương Dương, Nghia Đàn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Thái Hòa để mót ngô, chặt củi. Mỗi bông kẹ cũng được dăm ba hạt, mỗi ngày chăm chỉ cũng được vài ống ngô cho cả nhà sống qua ngày thì tha cho người ta. Quan phủ im lặng và không nhắc tới nữa…
      Năm 1933 ông Bùi Tự Cường là học sinh trường phủ duy nhất của làng bị bắt vì tội lôi kéo học trò nghỉ học ( bãi khóa ). Thầy tôi và cố Bân đại diện gia đình xuống phủ xin tha cho về với lý do ông ấy còn trẻ tuổi ( khoảng 15- 16 tuổi ), suy nghĩ bồng bột. Cố Bân cũng hứa sẽ bảo ban con học tập ngoan ngoãn. Vậy là ông Cường được tha. Xóm làng tuy nghèo nhưng bình yên. Cứ một tuần  thầy tôi lại mặc áo the khăn xếp cắp ô đi bộ 7 cây số xuống phủ trình diện một lần để cho quan và bang tá biết rằng mọi việc vẫn trôi chảy. Do ăn nói thuyết phục, có tình cảm nên quan chức và nhân dân, nhất là các cụ cao tuổi trong làng nể trọng.
     Mọi việc đều êm xuôi nên quan phủ phần nào yên tâm.
Năm 1935 mẹ tôi sinh con gái đặt tên là Nguyễn Thị Hanh.
Năm 1937 sinh thêm một trai thiếu cân, còi cọc nên đặt tên là Nguyễn Nhỏ
Năm 1939 cưới vợ cho anh Thái, cũng năm đó chị Danh về nhà chồng. Chồng là ông Phạm Dương người cùng làng. Chị tôi lấy chồng lúc 14 tuổi.
     Năm 1940 tôi ra đời, nhưng cũng năm sau đó gia đình tôi bị chết 2 người con là chị Hanh và anh Nhỏ vì bị ôn dịch ( bệnh đậu mùa ). Năm đó nhiều gia đình trong làng có con bị chết, nhà một người nhà hai người do dịch bệnh hoành hành không có thuốc chữa. Hai cái tang trong một năm cộng với kinh tế quá khó khăn làm cho thầy mẹ tôi suy sụp và cũng không tha thiết điều gì để mong chờ, nên thầy tôi xin nghỉ. Dân làng thương tâm cử lý trưởng khác là ông Tăng Doãn. Trước khi nghỉ nhà nước phong kiến tỉnh phong cho cụ hàm Cửu Phẩm Văn Giai. Hàm này chỉ cấp cho những người có học thức, đức độ, nhân hậu, nho nhã được mọi người yêu mến. Khác với hàm Cửu Phẩm Bá Hộ để cấp cho các thành phần khác.
Trở về thường dân với bao nỗi lo toan, tiếp tục cày cấy, làm vườn, nhưng ruộng đất ít nên phải buôn bán nhỏ vì không có vốn, lấy công làm lãi tý chút để nuôi sống cho cả nhà trong cảnh cơ hàn. Nhà cửa vẫn ngôi nhà mái rạ 4 gian ở bìa làng, tường nhà chỗ xây bằng sò viên chỗ thì vách cót, mấy năm sau lại phải thưng cho anh cả một gian làm buồng riêng và một cái nhà  bếp lợp tranh, tường bằng vách tre trát bùn trộn rơm.

III -  Giác ngộ Cách mạng:
     Từ năm 1936 Mặt trận Bình Dân bên Pháp thắng cử có chủ trương thay đổi một số chính sách như thả tù chính trị, cải cách thuế khóa và thay thế người cai trị ở các thuộc địa và bản địa, một số tù nhân chính trị ở VN cũng được tha. Sau đó ở địa phương cũng nghe đến việc hình thành tổ chức Mặt Trận, hai năm sau mới rõ ràng là Mặt Trận Phản Đế.
     1939 ra đời tổ chức Nông Hội, tuy không công khai, thầy tôi tham gia hội này từ năm 1942. Sau này mới biết là Nông Hội Đỏ.
     1943 mẹ tôi sinh thêm con trai út, đặt tên là Nguyễn Thụ. Đến khi đi học cấp I đổi thành Nguyễn Minh Châu.
     Cách mạng tháng tám 1945 nghe trống dục liên hồi cả làng mít tinh cướp chính quyền, Nông Hội Đỏ là nòng cốt của lực lượng ấy. Thầy tôi cũng là thành viên tích cực của những cuộc biểu tình mít tinh kéo nhau xuống phủ cướp chính quyền. Chính quyền cũ tan rã.
     Cách mạng tháng tám thành công, nhà nhà đều phấn khởi, chính quyền mới tỉnh, huyện được thành lập. Xã cũng vậy. Sau khi thành lập xã Hạnh Viên gồm làng Hiệu Thượng, làng Tú Mỹ  và làng Nghi Lộc, rồi bàu Ủy ban kháng chiến Hành chính xã Hạnh Viên, thầy tôi trúng cử chức Chủ Tịch.
     Công việc ban đầu của UBKCHC xã Hạnh Viên là ổn định xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Thành lập các tổ chức dân quân, du kích, đoàn thanh niên cứu quốc, hội phụ nữ, đội thiếu nhi. Già trẻ lão ấu đều có đoàn thể của mình, sinh hoạt rất sôi nổi. Công tác sản xuất nông nghiệp, trồng rau màu được đẩy mạnh để chống đói, nhất là xóa mù chữ cho nhiều người, các lớp học bình dân học vụ được mở ra ở từng thôn xóm. Để chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội khóa đầu tiên ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn dân nô nức học chữ quốc ngữ. Phong trào bình dân học vụ lên cao, Thanh niên biết chữ trong làng đều hăng hái dạy học. Để cuộc bàu cử quốc hội khóa I đạt kết quả. Dân quân du kích đội ngũ chỉnh tề, tập đi đều bước, tập đứng nghiêm, quay trước, quay sau, quay trái , quay phải khi có khẩu lệnh của chỉ huy. Mỗi người trang bị 1 cây gậy tre dài 1,6m, có người có mũ ca lô, một mũi giáo sáng lòa cắm chặt vào đầu gậy. Tuy quần nâu áo vá, có người chỉ có quần đùi, chân đất, ai mặc quần dài thì dùng dây thắt túm dưới gấu quần gọi là quần gôn. Ai đứng vào hàng ngũ ấy đều thấy tự hào và trông oai lắm. Khi người chỉ huy hô: Việt Minh thì mọi người đồng thanh hô: Vạn Tuế (nghĩa là Việt Nam muôn năm). Khi người chỉ huy hô: Dô Ta – tất cả hô vang: Hè (nghĩa là Đoàn kết) Mỗi khẩu hiệu hô 3 lần. Tiếng hô vang vọng tràn ra xóm làng làm lòng người phấn chấn, quên đi cái đói cái rét đang hiện hữu. Những năm đầu sau C/m tháng tám 1945 là như vậy, vui lắm, phấn khởi lắm. Nhiều hôm dân quân du kích ngủ tập trung qua đêm tại đình làng hoặc nhà ai đó có sẵn ổ rơm ổ rạ ấm áp. Sáng dậy sớm chạy quanh làng, vừa chạy vừa hô khẩu hiệu Việt Minh – Vạn Tuế, Đô Ta – Hè rất vui. Khí thế cách mạng ngày càng lên cao.
     Tham gia hoạt động trong Nông Hội Đỏ và Mặt trận Việt Minh suốt từ năm 1942 đến năm 1948 Thầy tôi được kết nạp vào Đảng. Tuy lúc ấy Đảng đang hoạt động bí mật, nhưng hàng loạt đảng viên mới được kết nạp. Anh Thái và Chị Danh tôi cũng được vào Đảng thời gian đó. Đảng trực tiếp lãnh đao phong trào kháng chiến kiến quốc ở địa phương thông qua tổ chức Nông Hội và Mặt Trận.
     Khoảng năm 1949 huyện nhập 4 xã Viên, Hoa, Hạnh, Quảng thành xã Trung Diễn, thầy tôi phu trách thuế và bình dân học vụ. Sau vài năm lại nhập mấy xã nữa thành xã Quảng Châu gồm 31 thôn tất cả. Thầy tôi vẫn làm 2 nhiệm vụ trên trong phạm vi 31 thôn.
      Mọi nhiệm vụ được giao thầy tôi đều hoàn thành, xứng đáng là một Đảng viên tiêu biểu của Đảng, không có điều tiếng gì.
      Do ruộng đất ít, nhà nghèo nên năm 1948 gia đình tôi nhận 3 sào ruộng rẽ của ông Trùm Dương, nhà ở xóm Cao Vương ( xóm Chùa ). Mỗi khi gặt lúa phải mời người nhà ông này giám sát xem gặt được bao nhiêu gồi, bao nhiêu lượm, bao nhiêu gánh, trừ đi lượng lúa làm giống 5% còn lại chia đôi và gia đình tôi phải gánh đến tận nhà trả cho họ.  Tất nhiên thuế má nhà tôi phải nộp. Có một lần tuy còn nhỏ tôi cũng cùng gánh thóc đến nhà nộp tô cho chủ ruộng.
     Năm 1953 nhà nước chủ trương giảm tô 25% nghĩa là gặt được mười phần chia làm 4 , ¼ đó của tá điền cày rẽ được hưởng, còn lại ¾ chia đôi, người có ruộng một phần, tá điền một phần. Đến cải cách ruộng đất 1955 nhà tôi được chia luôn 3 sào ruộng ấy. Được cắm thẻ nhận ruộng ai cũng vui. Không khí trong thôn rộn rã tiếng cười…
      Cũng năm cải cách ruộng đất, thầy tôi bị xóa tên khỏi Đảng vì có người tố cáo theo dõi bắt ông Bùi Tự Cường, nhưng năm 1943 ấy thầy tôi đã nghỉ 2 năm trước. Với lại ban đêm do đói kém nên kẻ trộm trong làng cũng như các làng khác mò vào làng mình rình rập bắt trộm gà, trộm rau màu, tuần đinh đi tuần chống trộm cho dân lại nghĩ có kẻ rình mò để bắt cộng sản. Lúc đó người ta tố sai chẳng ai có thể thanh minh được. Thôi thì cây ngay chẳng sợ chết đứng, thầy tôi chỉ tin có vậy. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại được  phục hồi trở lại do bị tố oan. Thầy tôi thở phào nhẹ nhõm và nói rằng đúng là trời có mắt. Cũng may tuy làm lý trưởng nhưng thật chẳng có gì, nhà tranh vách cót, thiếu đất, cày thuê làm tá điền cho địa chủ, nhưng lúc đó thầy tôi cũng hoang mang lắm. Về sau quy thành phần được xếp vào trung nông lớp dưới bị bóc lột. Anh Thái tôi ở  riêng, có 2 mảnh vườn, không có trâu bò nên xếp vào thành phần bần nông.
      Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp thầy tôi được nhận huy hiệu kỷ niệm kháng chiến, sau này được nhận huy chương kháng chiến hạng nhất.
      Khi thành lập HTX nông nghiệp, thầy tôi được bàu vào ban quản trị phụ trách kế toán và tham gia một số công tác khác ở địa phương. Cho đến năm 1970 thầy tôi mới nghỉ hoàn toàn, không tham gia công tác gì nữa, ở nhà trồng trọt chăn nuôi, làm thợ nề, thợ mộc giúp bà con xây dựng nhà cửa ( lúc đó cụ đã 70 tuổi ).
     Năm 1987 mẹ tôi qua đời, thọ 87 tuổi.
     Năm 1992 thầy tôi qua đời, thọ 93 tuổi.

      Các con đến tuổi trưởng thành xung phong vào lính đánh giặc như ông Thái, ông Bình, ông Châu đều trở thành Đảng viên của Đảng, Được phân công những công việc trọng yếu phù hợp với trình độ văn hóa mỗi người. Còn tôi, sau khi học xong khóa trung cấp Thiết kế kiến trúc 3 năm, năm 1962 tôi ra trường được phân công về viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc, được xếp vào tổ Thiết kế những công trình đặc biệt cho Trung Ương và Chính Phủ. Làm bí thư chi đoàn và là ủy viên BCH Đoàn Viện Thiết kế. Năm 1965 được kết nạp vào Đảng. Năm 1966 được cử  học đại học Xây Dựng. Năm 1971 tôi là một trong 2 học sinh tốt nghiệp loại giỏi của khóa học ấy. Năm 1973 được điều động về công trường 75808 trực tiếp thi công Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi kết thúc công trình tôi về lại cơ quan cũ làm KS thiết kế kết cấu Viện Thiết Kế Dân Dụng BXD…
     Năm 1980 tôi được Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên bổ nhiệm Phó Giám đốc xí nghiệp và biệt phái về xây dựng nhà máy điện Phả Lại, sau đó làm Giám Đốc Trung tâm KTKT xây dựng. Năm 1988 được cử đi I Raq 2 năm, năm 1991 về nước làm Trưởng phòng kỹ thuật và quản lý dự án của VINACONEX - 6 cho đến lúc nghỉ hưu năm 2003.

     Nghĩ về người cha, tôi thầm biết ơn cụ đã để lại cho chúng tôi nếp sống, nếp nghĩ của những nhà nho thuở trước, luôn luôn tôn trọng sự thật, lấy đạo đức của người chân chính để học tập rèn luyện. Chúng tôi thật tự hào và không hổ thẹn với người cha thân yêu của mình…

  Hà Nội  ngày 22 - 4 – 2016

 Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

Trò chơi con trẻ

( Thơ thiếu nhi )

Trò chơi tự tạo
Không mất tiền mua
Vẫn khỏe vẫn đùa
Thích ơi là thích...
Bạn cười khúc khích
Tôi vã mồ hôi
Chúng ta cùng chơi
Trò khoeo chân nhẩy...

Nỗi nhớ vu vơ


Một mình trong đêm vắng
Laị nhớ vu vơ từ thuở thiếu thời
Đôi guốc nhựa màu ngay ngắn hẳn hoi
Xếp đơn sơ ở ngoài khung cửa
Bước chân son một thời trên đôi guốc nhựa
Ôm khít gót chân trắng hồng như lụa
Như là ta đã có nhau.

Tấm áo thiên thanh xanh đậm một màu
Vào nỗi nhớ nhung
Còn nguyên sơ đi vào ký ức.
Năm tháng qua mau bao mùa lá bạc
Vẫn như in tiếng guốc buổi tan tầm
Áo phai màu lỗ khuyết hở lặng câm
Khoe da trắng một thời nông nổi.

Chiếc nón lá trong vành trăng muốn nói
Nét hoa văn che nửa mái đầu
Suối tóc dài buông gọn phía sau
Cho mơ mộng tràn về bao quyến rũ.

Năm tháng xưa có dư thừa gian khổ
Vẫn nên thơ trong mộng ủ ráng chiều
Ngày hè dài chim quốc gọi tịch liêu
Ghi nỗi nhớ vu vơ  cùng đi vào bất tận...



Kết quả hình ảnh cho nỗi nhớ

Bài viết của GS Nguyễn Lân Dũng

Vài lời khuyên nếu bạn đã 60 tuổi
Thứ tư - 07/09/2016 05:11
·                                     Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

       Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Số người sống đến 100 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ là 1 trên 100.000 người.
       Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ, bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.
       Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.
       Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai gì nữa đâu.
       Đừng lo lắng nhiều quá về con cái, vì con cái có số phận của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.
       Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Chúng tất nhiên biết lo cho cha mẹ, dù có lòng nhưng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm ăn và nhiều ràng buộc khác nên không thể giúp bạn được đầy đủ.
       Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khỏe với tiền tài. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khỏe. Khi nào thì bạn thôi kiếm tiền? Và có bao nhiêu tiền là đủ?
       Dù bạn có cả ngàn mẫu đất, bạn cũng chỉ ăn khoảng vài bát cơm mỗi ngày; dù bạn có cả chục biệt thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng vài mét vuông để ngủ vào ban đêm.
       Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có thể có những chuyện buồn phiền riêng.
       Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn con mình. Nhưng bạn có thể so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể làm thay đổi, vì chẳng có ích gì, mà lại còn tổn hại cho sức khỏe bạn…
       Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc cho chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn đúng là đã sống hạnh phúc từng ngày.
       Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “có được”.
       Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ ít đến.
       Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một vài thứ thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm với tràn trề sức khỏe.
       Và, nhất là cần biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn bạn bè nữa. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và thấy còn có nhiều người cần đến mình. Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, buồn tẻ.
        Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

       (Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn đã trên 60 tuổi, hay những người không bao lâu nữa cũng sẽ đến tuổi 60).

Hai lần gặp Bác

( Hồi ký của Nguyễn Quang Huệ )

         Tôi ra trường đầu năm 1962 và được phân công về Viện Thiết Kế Dân Dụng Bộ Kiến Trúc. Trong quãng thời gian từ 1963 đến 1965 tôi may mắn được gặp Bác hai lần.
        Lần thứ nhất: Đó là ngày 17 tháng 3 năm 1963 chúng tôi đang làm việc ở công trường khu tập thể Kim Liên ( Hà Nội ) thì có đoàn xe 3 chiếc: một xe màu đen và 2 xe com măng ca đi vào công trường. Chẳng có một thông báo nào trước đó nên không ai để ý. Đến khi có mấy người trên xe xuống trước mở cửa, thấy một cụ già bước ra hao hao giống Bác thế là mấy người hô to Bác Hồ đến, Bác Hồ đến. Cả công trường náo động hẳn lên người nọ truyền tai người kia, bỏ hết công cụ đang làm việc, hướng theo đám đông chạy tới.  Chỉ một loáng sau đã đông nghịt hàng mấy trăm người, không còn chỗ chen chân. Vậy là Bác đứng giữa một khoảng trống rộng do các đ/c bảo vệ và ban chỉ huy công trường dãn dẹp. Ban chỉ huy cử ngay bảo vệ đem một cái bàn gỗ và micro ra cho Bác đứng nói chuyện ngay tại hiện trường. Những tiếng hô vang lên: Hồ Chủ Tịch muôn năm, Bác Hồ muôm năm. Ai nấy đồng thanh hưởng ứng. Tất cả đều rạng rỡ vì được gặp Bác, một điều mong ước mà không phải người nào cũng may mắn được gặp.
        Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng. Mọi người im phăng phắc để nghe Bác nói chuyện. Bác nói đại ý: Hôm nay Bác về thăm Kim Liên, thăm các cháu đang xây dựng khu nhà mới tại đây. Bỗng Bác hỏi Kim Liên là gì các cháu biết không? Mọi người suy nghĩ để trả lời nhưng Bác giải thích luôn: Kim là vàng, liên là sen. Kim Liên là bông sen vàng, thật quý thật đẹp có phải không? Mọi người vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng theo cách giải thích của Bác. Các cháu đang xây dựng khu tập thể Kim Liên sao cho đẹp, cho bền chắc, chất lượng cho tốt. Nếu thực hiện được như vậy năm sau Bác lại về thăm Kim Liên. Cả đám đông vỗ tay vang dậy và hứa sẽ làm theo lời Bác để năm sau lại đón Bác về thăm. Buổi nói chuyện tuy ngắn ngủi nhưng chúng tôi nghe như nuốt từng lời Bác nói. Sau đó Bác chúc mọi người mạnh khỏe, công tác thật tốt. Các đ/c hướng dẫn Bác vào thăm nhà ăn của khu tập thể, và hướng dẫn Bác ra xe đi theo lối khác mà không quay lại đường cũ. Bao người hụt hẫng tiếc nuối vì đứng đợi Bác quay ra. Nhưng Bác đã đi khỏi công trường lâu rồi mà không ai biết.
        Thực ra trước lúc xuống xe Bác đã quan sát, kiểm tra một vòng những ngôi nhà 4 tầng đã lắp ghép xong. Bốn nhà khu A đã có người ở, đó là các chuyên gia Triều Tiên và chuyên gia Liên Xô. Mấy ngôi nhà khu B mới lắp xong và đang hoàn thiện. Tuy vậy đường sá vẫn còn ngổn ngang. Vài khu đất trống chưa xây dựng công trình, một số cơ quan tranh thủ trồng khoai, trồng rau để cải thiện bữa ăn cho tập thể.
        Khu tập thể Kim Liên ứng dụng phương pháp lắp ghép tấm lớn của Triều Tiên lần đầu được xây dựng tại VN. Những khu nhà 4 tầng lắp bằng những tấm tường lớn đúc sẵn bằng bê tông xỉ có cốt thép, để sẵn những mối nối để hàn với nhau. Sau khi đổ bê tông vào khuôn, cấu kiện được chuyển vào buồng hấp bằng hơi nước nóng 100 độ trong 24 giờ. Lúc đó bê tông đã ninh kết gần 100% cường độ thì được đem ra hiện trường chuẩn bị lắp ghép bằng cần trục tháp.
         Năm 1954 ký kết hiệp định đình chiến Giơ ne vơ. Năm 1958 Bác đi thăm một số nước XHCN trong đó có Triều Tiên, Bác thấy họ xây dựng theo cách này rất nhanh nên đã đặt vấn đề với bạn giúp VN áp dụng công nghệ này. Thế là chuyên gia bạn đã được cử sang, phía VN cũng cử thực tập sinh đi Triều Tiên học tập. Chỉ mấy năm đã hình thành khu tập thể khang trang và đẹp đẽ. Khu tập thể Kim Liên ra đời đã giảm bớt khó khăn về chỗ ở của bao cán bộ và chuyên gia các nước lúc bấy giờ.
        Công lao to lớn của Bác đối với chúng ta không gì so sánh được, phải không các bạn…Bác đã đi xa 48 năm nhưng những kỷ niệm trong tôi chưa bao giờ phai mờ và luôn thầm hứa với Bác sẽ làm việc thật tốt, sống gương mẫu noi theo tấm gương của Bác…

        Lần thứ hai:
        Khoảng tháng 11 – 1965 tôi và đoàn đại biểu Đoàn Viện Thiết kế vinh dự được mời dự đại hội Đoàn các cơ quan Trung ương họp tại hội trường Bộ Lao Động. Các đại biểu được thông báo sử dụng quần áo tối màu để tránh máy bay địch. Lúc đó tôi là Ủy viên BCH Đoàn Viện và là bí thư Chi Đoàn Thiết kế 1, là đơn vị xuất sắc ba năm liền đươc công nhận tổ LĐXHCN (lao động xã hội chủ nghĩa) của Đoàn Bộ Kiến Trúc nên may mắn được mời tham gia Chủ Tịch Đoàn.
        Khi đ/c Đoàn Tiến Duyệt Bí thư Đoàn đang đọc báo cáo tổng kết phong trào "Ba sẵn sàng" của Đoàn các cơ quan Trung ương được khoảng 15 phút, chúng tôi nghe tin Bác sẽ đến Đại hội, cả hội trường nhốn nháo hẳn lên, chẳng ai nghe gì nữa. Thấy không khí ồn ào, đ/c Duyệt dừng lại và đề đại biểu trật tự ngồi tại chỗ chờ đón Bác. Khoảng 10 phút sau Bác đến, cùng đi có Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Cả hội trường trên 450 đại biểu đứng dậy vỗ tay vang dậy đón chào Bác. Bác và Thủ tướng đi thẳng lên Đoàn Chủ tịch. Đưa tay ra hiệu cho chúng tôi yên lặng, Bác nói: Bác và đ/c Thủ Tướng thay mặt Trung ương Đảng và Chính Phủ đến thăm Đại hội và nói chuyện với thanh niên về phong trào “Ba Sẵn sàng”. Trung ương Đoàn cũng đã báo cáo những thông tin cần thiết cho Bác.
        Trong số 450 đại biểu dự Đại hội này có 113 cháu gái, có 120 cháu quê miền Nam, như thế là tốt. Số cháu gái đó chưa phải là nhiều cho nên các cháu phải cố gắng vươn lên. Phong trào "Ba Sẵn sàng" đã có thành tích khá, nhưng phải khiêm tốn, chớ phô trương hình thức.
        Anh Phạm Tiến Duyệt có ý muốn thanh minh nhưng Bác đụng nhẹ vai anh Duyệt tỏ ý nhắc nhở, sau đó Bác nói tiêp:
        Trong số hơn 45.000 đoàn viên, thanh niên cơ quan trung ương ghi tên tình nguyện "Ba sẵn sàng", mới có một nửa được công nhận. Số còn lại phải làm thế nào xứng đáng được công nhận danh hiệu "Ba Sẵn sàng". Các cháu phải ra sức phấn đấu hơn nữa.
      Mấy năm qua các cháu đã giúp các bộ, ngành và chính phủ hoạt động tốt, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng được giao. Bác nhắc các cháu phải đẩy mạnh thi đua giữa địa phương này với địa phương khác, ngành này với ngành khác, cơ quan này với cơ quan khác để học tập lẫn nhau và cùng nhau tiến bộ. Các cháu nữ phải học tập phụ nữ Nam Ngạn và phụ nữ thôn Bùi…
        Đến phần khen thưởng: Bác tặng huy hiệu của Người cho 24 đoàn viên xuất sắc. Đọc tên từng người, đến số 16 là Bùi Ngư, khác với thông thường, Bác đọc chậm, nhỏ hơn cả trích ngang, đột nhiên Bác hỏi Cháu Bùi Ngư đâu? đ/c Ngư lúng túng hồi hộp đứng dậy: Thưa Bác Cháu đây ạ. Bác đọc chậm: Bùi Ngư, dân tộc Mường, Ký thuật trung cấp điện Viện Thiết kế Dân Dụng bộ Kiến Trúc. Bác dừng lại nói khôi hài: Bác tưởng cháu làm nghề nuôi cá chứ? Cả hội trường cười ồ vì câu hỏi bất ngờ, dí dỏm của Bác, vỗ tay tán thưởng, phấn chấn rất lâu. Điều đó chứng tỏ Bác rất quan tâm và khích lệ đến các cán bộ là người dân tộc…
        Kết thúc buổi nói chuyện bác nói: Bác nhờ các cháu đại biểu dự Đại hội hôm nay chuyển lời hỏi thăm thân ái của Trung ương Đảng và Chính phủ đến các cháu đoàn viên và thanh niên đang công tác, sản xuất, chiến đấu và học tập ở các địa phương…
        Bác xin phép ra về. Cả hội trường đứng dậy tiễn Bác và tràn ra cửa để được gần Bác lần nữa, nhưng các đ/c bảo vệ đã đưa bác đi ra bằng cửa khác. ..

        Tôi ngồi cách Bác một hàng ghế, bàn trước bàn sau trên Chủ tịch đoàn, lòng lâng lâng niềm vui hạnh phúc.
        Các bạn ạ, Làm công tác Đoàn cơ sở cũng có lúc được may mắn như vậy đấy. Tôi đã được gặp Bác hai lần…

                                                                                             Hà Nội ngày 18 - 5 - 2017

                                                                                                       


Một thời

Bài thơ cũ nay Fb cho tôi ôn lại.

Một thời...
20:42 | Nhãn: Bài viết mới

Một thời hữu nghị đôi bên
Một thời dao quắm vung lên bổ đầu (1) !
Một thời gà gáy gọi nhau
Một thời chọc gậy (2)... phá rào tràn sang (3)...
Hoan hô mười sáu chữ vàng
Nhưng còn khoản nợ "trả Hoàng..."(4) thì sao ?
Nợ nần đừng để quá lâu
Lưỡi bò liếm cả yết hầu Biển Đông !?(5)
Xóm giềng nhức nhối mặc lòng
Dân nhiều, nước lớn mà không chung tình !...
Pháp xưa xâm lược nước mình
Mà nay thân thiết như hình anh em
Mỹ xưa giết hại dân đen
Mà nay tay bắt, mặt hiền như hoa
Nhật - Hàn - Úc cũng thế mà
Ngày xưa đấu súng nay ta đón chào
Bạn bè ở khắp Năm Châu
Đều hân hoan với bạn bầu Việt Nam .
Vì sao cạnh xóm, cạnh làng
Mà toàn gây chuyện trái ngang cho người
Lại còn muốn chiếm biển, trời
Ai qua xin phép ?... ôi thôi lạ kỳ ?
Xóm giềng chung cả lối đi (6)
Mà sao xí chỗ làm chi - bực mình ?
Anh em là phải phân minh
Đừng nên dựng chuyện linh tinh hại người...
Chân thành cần lắm ai ơi
Nghĩa tình hơn hẳn ngàn lời nói suông...!
(!) 10 h 30 ngày 25/8/1978, sau khi gây ra sự kiện "NẠN KIỀU" do TQ đóng cửa khẩu Lạng Sơn không cho Người Hoa về nước làm hàng ngàn người kẹt lại, gây rối loạn vùng biên. Một số Người Hoa và côn đồ người TQ tràn qua cột mốc đã dùng gậy gỗ và dao quắm bổ vào đầu, vào người chiến sĩ trẻ Lê Đình Chinh làm anh hy sinh tại chỗ , trong khi đó anh chỉ có tay không vận động họ giữ trật tự. Anh là chiến sĩ đầu tiên hy sinh ở chiến trường biên giới phía Bắc mà cuộc chiến tranh này do TQ gây ra .
(2) 1976 TQ xúi bẩy và hậu thuẫn cho Pôl Pốt (Khmer đỏ) đánh VN ở toàn tuyến biên giới Tây Nam gây nhiều tai họa cho nhân dân ta. Chúng còn định tiến đánh Sài Gòn của chúng ta .
(3) Ngày 17/2/1979 TQ tràn sang đánh VN đồng loạt ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc, công khai phát động cuộc chiến tranh biên giới với VN .
(4) 1974 TQ đánh chiếm đảo Hoàng Sa của VN do Ngụy quyền Sài Gòn chốt giữ.
(5) 14/3/1988 TQ đánh đảo chìm Gạc Ma của VN làm 64 chiến sĩ ta hy sinh.
(6) Không phận quốc tế .

Chuyện cũ ôn lại

Chuyện ngắn mà súc tích. Thắt nút được cởi mở bất ngờ. Người vợ nghe câu nói của người chồng "say rượu" thật hả lòng hả dạ...Thế mới biết con người ta nhiều khi tin vào những điều hư ảo hơn là lời nói thật...
Paktor
3 Tháng 3 2014
Một câu chuyện hay, không đọc hơi phí :))
Tối đó, người chồng uống rượu say và trở về nhà, nôn mửa, đập vỡ đồ đạc và quát tháo om sòm..
Người vợ đỡ anh ta vào trong phòng, rồi quay ra dọn dẹp mọi thứ...
Sáng hôm sau, anh ta thức dậy, nhớ lại mọi chuyện và chuẩn bị sẵn sàng tinh thần cho cơn giận giữ của người vợ. Anh hi vọng sẽ không đến nỗi... đánh nhau T.T
Bỗng nhiên, anh nhìn thấy một tờ giấy nhắn đặt trên bàn cạnh giường "Anh yêu à, bữa sáng yêu thích của anh đã sẵn sàng trên bàn rồi nhé!
Em phải ra ngoài sớm để mua một ít đồ. Em sẽ về sớm với anh, chồng yêu à~ Em yêu anh "
Người chồng quá đỗi kinh ngạc, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Anh gọi đứa con trai vào và hỏi. Cậu bé nói...
Tối qua, lúc mẹ đưa bố lên giường, mẹ cố gắng cởi giày và áo sơ mi của bố ra, bố say bí tỉ rồi, nhưng bố nói:
"Này cô kia! Đừng đụng vào tôi! TÔI CÓ VỢ rồi!"
Làm quen với những người độc thân xung quanh bằng Paktor nhé. Tải ngay >>http://taps.io/0u6w

Trò chuyện với nhà thơ Trần Đăng Khoa



          Nguyễn Quang Huệ

       Tôi có việc tới Tạp chí Thơ (Hội nhà văn VN) nhận tạp chí số mới, nhân thể ghé vào thăm nhà thơ Trần Đăng Khoa, tặng anh tập tuyển thơ thiếu nhi BẮC CẦU VỒNG vừa mới xuát bản. Nhắc đến nhà thơ ai cũng biết anh là thần đồng cách đây 50 năm. Lúc anh mới 8 đến 10 tuổi. Thơ Trần Đăng Khoa ghi dấu ấn bao thế hệ bạn đọc: Hạt gạo làng ta, Vàng ơi, Mẹ ốm… Rất nhiều, rất nhiều bài thơ hay, nhiều người thuộc. Tập thơ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI của anh đã tái bản hàng trăm lần. Thơ anh đã đi vào sách giáo khoa các lớp tiểu học, trung học của các em thiếu nhi. Bao bản nhạc hay lay động lòng người cũng đã lấy thơ anh làm lời cho các ca khúc đó. Thơ anh còn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài v.v… Kể sao cho hết những thành công về thơ của anh, Nhà thơ Trần Đăng Khoa. Lịch sử văn học VN chắc chắn không quên những sáng tác của anh đã đóng góp cho nền văn học nước nhà. Anh là người rất khiêm tốn, có chút hài hước, thường không thích nghe những lời ca ngợi về mình. Trong bài thơ “Gửi bác Trần Nhuận Minh” (Anh trai TĐK) viết năm 1998, bài thơ có 9 khổ, tôi thích nhất hai khổ thơ thứ 3 và thứ 4:… Bác âm thầm chìm nổi / Cùng kiếp người lang thang / Em lông nhông bầu bạn / Với kiến đen chó vàng / Biết bao nhiêu giun dế / Đã khiêng vác em lên / Tên tuổi em xủng xoảng / Những mõ ran trống rền…Những câu thơ ngộ nghĩnh nhưng rất lạ và rất thơ, đọc lên ai cũng vui cười và khâm phục….
       Nghe tiếng gõ cửa anh gọi to: xin mời vào. Anh đứng dậy bắt tay, pha chè mời tôi uống nước thân tình như gặp lại người bạn cũ ở xa về. Trên bàn làm việc bề bộn những sách là sách. Bàn tiếp khách đặt ngay cạnh cửa ra vào, diện tích phòng làm việc của anh chưa đến 20 mét vuông. Bên cạnh là phòng làm việc của Chủ tịch Hội Nguyễn Hữu Thỉnh.
       Phút niềm nở ban đầu làm tôi tự nhiên hơn. Nói đến Trần Đăng Khoa thì ai cũng biết vì anh là người của công chúng. Nhưng anh chưa biết tôi vì lần này là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Anh chủ động bắt chuyện luôn:
- Chắc bác có việc?
- Có , nhưng việc không quan trọng. Tôi biết anh đã chuyển sang Hội Nhà Văn và được bầu làm Phó Chủ tịch Hội. Tôi ghé thăm anh và chúc mừng anh nhận nhiệm vụ mới. Anh nói luôn: tôi sang Hội đã hơn một năm nay, trước đây ở bên đài TNVN…
       Qua mấy lời chào hỏi xã giao, tôi trao tặng anh tập thơ. Đón nhận một cách trân trọng, ngắm nhìn một cách kỹ lưỡng anh nói: thơ thiếu nhi à? Anh nhận xét: Tập thơ dày dặn, đến gần 300 trang, bìa đẹp, trang nhã lại là bìa cứng nên sách đẹp lắm. Nhà xuất bản Hội Nhà văn đây mà. Rồi anh trao đổi: Làm thơ cho thiếu nhi là đề tài khó, nhất là lớp người cao tuổi như các bác. Trước đây tôi chỉ sáng tác cho tôi lúc tôi trên dưới mười tuổi, chả viết cho ai. Quan sát thế nào viết thế ấy. Sau này lớn lên vào quân đội lại viết cho người lớn. Có lần Nhà xuất bản Kim Đồng đặt hàng viết truyện thiếu nhi, tôi viết cuốn ĐẢO CHÌM. Khi đọc lại hóa ra không phải cho thiếu nhi mà cho người lớn. Vậy là tôi chuyển sang cho Nhà xuất bản Thanh Niên. Đến nay cuốn sách này đã tái bản 37 lần.
       Trở lại tập thơ tôi tặng anh nói tiếp: Vậy là bác đã xuất bản tới chín tập rồi à? Mấy trăm bài chứ ít gì? Bác có viết truyện cho thiếu nhi không?
- Tôi chỉ làm thơ, đủ thể loại, còn truyện thì có viết nhưng ít lắm. Với lại chỉ viết vài truyện vui ngắn cho người lớn là chính, Tôi trả lời.
       Lật đi lật lại tập thơ anh góp ý:
- Ảnh tác giả nên để cả trang vì bìa cứng in thế này trông nó chắp vá. Các thông tin khác in ở bìa cuối, như vậy người đọc dễ nhận thông tin hơn. Những hình ảnh minh họa nên chọn lọc kỹ càng và ít thôi, thơ là chính…
       Tôi nói với anh giá như tôi gặp anh sớm hơn chắc chắn sẽ bớt được những khiếm khuyết như trên. Nhưng bây giờ thì muộn rồi. Thôi để các tập sau này nếu có in tôi sẽ làm theo những ý kiến gợi ý của anh. Anh đề nghị tôi ghi lại số điện thoại và hứa sẽ đọc tập thơ tôi tặng, có điều gì cần trao đổi anh sẽ gọi điện cho tôi sau.
       Sau cuộc gặp gỡ nhà thơ Trần Đăng Khoa, anh đã làm tôi ngạc nhiên về sự chân tình và thẳng thắn, cởi mở và đầy tình bạn bè trong công việc sáng tạo của những người đã cầm bút lâu năm…


                        Hà Nội tháng 9 năm 2016


Thơ Lê Cảnh Nhạc

Thưa bạn đọc .
Cách đây gần 4 năm Nhà thơ Lê Cảnh Nhạc đã có tác phẩm rất kịp  thời về dàn khoan 981. Hôm nay Fb nhắc lại cảm tưởng của tôi về bài thơ này. Tôi xin phép tác giả cho đăng lại lên trang cá nhân để bạn bè tôi cùng chia sẻ.

HÀNG XÓM

Phản trắc như Nguỵ Diên
Gian hùng như Tào Tháo
Tàn bạo như Tần Thuỷ Hoàng
Đen trắng mèo hoang...
Những gương mặt
Mang tên "Phương Bắc"
Hàng xóm tối lửa tắt đèn
Núp bóng đêm hôi của
Nhập nhoạng hoàng hôn
Lén nhổ cây dịch chuyển hàng rào
Đòn xóc nhân danh
"Đồng chí cùng chiến hào"
Rút giáo sau lưng
Mặc cả giao thương bằng máu bạn
Đâm bị thóc chọc bị gạo
Xua thú hoang sang cắn láng giềng
Lấy thịt đè người
Đốt nhà bạn huyênh hoang "cho bài học"
Thản nhiên nhảy vào vườn nhà khác
Quây rào dựng trại đào bới sắn khoai
Thè lưỡi bò chực liếm hết đất đai
Đổi trắng thay đen
Gây rối ren gửi chân sói dữ
Đục trong qua sông mới tỏ
Miệng quân tử lòng dạ tiểu nhân
Xương trắng Đống Đa, Hàm Tử, Bạch Đằng
Chất ngất lòng tham phơi bày ô nhục
Cả nhà ta không phút giây chợp mắt
Đuổi cướp xong lại canh trộm rào vườn
Tay trồng hoa, tay chuốt giáo mài gươm
Ưỡn ngực đón phong ba chưa bao giờ biết sợ
Lê Cảnh Nhạc
(11/5/2014

Hoa đại trắng

( Kỷ niệm ngày thăm đền An Dương Vương ngày 1/ 5 / 2017 )


Kết quả hình ảnh cho Đền thờ An Dương Vương
Kết quả hình ảnh cho Đền thờ An Dương VươngTôi đứng giữa hàng cây
Hoa đại trắng nở đầy trong kẽ lá
Nắng xôn xao một sáng hè đầu hạ
Từng sợi tròn trên thềm đá rung rinh.

An Dương Vương trú ngụ ở quê mình
Mấy ngàn năm vẫn nguyên màu cổ tích
Mộ Dạ xưa giữ trọn tình ly biệt
Thương Mỵ Châu hóa chim lớn tìm về.

Một sáng xuân ngày ấy nhớ con đi
Thân liễu yếu phải lìa cha đơn độc
Nhớ thương con lòng nghẹn ngào bật khóc
Cha quay về Mộ Dạ để tìm con...

Nước non thiêng nay sông núi vẫn còn
Giữ bình yên cho Người tròn giấc ngủ
Đây sông núi một màu xanh quyến rũ
Trọn ngàn đời ôm ấp chỗ Người đi...

* Ngày hội đền Cuông 15-2 ÂL 1995 một con chim hạc lớn sa xuống khu đền. Dân chúng cho rằng Công chúa Mỵ Châu về tìm cha. Mùa lễ hội năm sau một cá voi lớn vào vùng biển khu vực đền, người dân cho rằng Vua cha về tìm con. Chim hạc được lột xác bày trong tủ kính của đền. Cá voi chết dân chúng chôn cất lập bia mộ thờ cúng. Đây là câu chuyện vừa huyền thoại vừa có thực tại đền thờ An Dương Vương ở Diễn Châu, Nghệ An.

lăng mộ đá toyota thanh hóa