Thơ Nguyễn Xuân Hải

Bạn đọc thân mến.

Nguyễn Xuân Hải là nhà báo. Anh là Trưởng BBT của Tạp chí NGƯỜI XÂY DỰNG. Chiều nay ( ngày 7 - 9 - 2016 ) gặp anh ở tòa soạn, chúng tôi trao đổi về kế hoạch xuất bản tập thơ NGƯỜI XD LÀM THƠ HAY. Có lẽ sang năm 2017 tập thơ này sẽ ra đời vì hiện nay mới đang tập hợp các tác phẩm của từng tác giả. Nhân thể trong thời gian chờ đợi, anh gửi tôi mấy bài thơ nhờ đăng lên "Trang thơ Nguyễn Quang Huệ". Anh nói trang thơ này  bây giờ như một tờ báo  vì nhiều người đọc. Tôi nhận lời và đăng lên đây để bạn đọc xa gần cùng tham khảo. Mọi sự góp ý chia sẻ xin các bạn gửi về: quanghueatk@gmail.com. chúng tôi xin cám ơn các bạn.



LÀM QUY HOẠCH
                     Tặng các Nhà Quy hoạch

Kết quả hình ảnh cho quy hoạch thành phố hà nội đến năm 2030
Quy hoạch TP Hà Nội đến năm 2030
Làm quy hoạch là phải tiến lên phía trước
Mắt tỏ tường để nhìn thấu tới tương lai
Làm quy hoạch cũng phải biết quay nhìn lại
Bài học xót xa, gây bao phiền toái.

Làm quy hoạch chớ có quên thực tại
Chớ viển vông như chàng thi sỹ họ Xuân
Đừng có "Treo" mà làm khổ nhân dân
Tốn bao công sức mà cũng tốn cả giấy mực.

Vào nghề quy hoạch với biết bao háo hức
Mỗi nét vẽ là kim chỉ đường đi tới
Dẫn con người vượt qua vòng u mê  tăm tối
Mảng Đỏ-Xanh đây, ôm ấp bao khoảng đất trời.

Đô thị thông minh cùng nông thôn đổi mới
Thẳng cánh cò bay, chim tìm về làm tổ
Dòng nước trong, cây xanh phủ khắp mọi miền
Không khói bụi, không ồn ào, ô nhiễm.

Quy hoạch ấy vừa lòng trên - dưới, lại chẳng làm phiền
Sống như thế có kém gì nơi bồng lai tiên cảnh
Có khó gì đâu nếu có tầm và tâm trong sáng
Cố lên đi! hỡi các nhà quy hoạch tài năng.
                                                                      


ANH TRONG TRÁI TIM TÔI
Tặng anh chị em công nhân xây dựng
                                          

Tôi biết anh thuở còn trai trẻ
Anh theo tôi, tôi theo anh, ta thương nhau
                                    suốt cả cuộc đời
Nay tôi đã về chiều còn anh thì vẫn trẻ mãi
Nghĩ về anh lòng tôi như se lại
Mọi bon chen suy tính bỗng tiêu tan.

Xa gia đình, sống trong lán tạm
Mảnh chăn đơn, không đủ ấm gió đông về
Tháng ngày quen quạt giấy, quạt tre
Đêm trằn trọc oi nồng mùa hạ
Nồi cơm chín dang dở bằng gỗ mủn cốp pha
Đầu đội nắng, chân dẫm bùn hố móng
Lúc trèo cao chót vót trên tầng mây
Lửa hàn đêm soi sáng những hàng cây
Đã gợi lên biết bao nguồn thi hứng
Mùi vôi, sơn mới ngạt ngào thơm phức
Điểm tô cho công trình vươn mãi lên cao
Có lời ca nào mượt mà hơn thế
Bao nụ cười ùa vào căn nhà mới,
     hạnh phúc ngập tràn chào đón lúc xuân sang.

Còn anh, anh vẫn lang thang cùng năm tháng
Chẳng kể ngày đêm xây tổ ấm cho đời
Nhưng cuộc đời anh đâu có thảnh thơi
Đời mượn nghề anh để hát cho vui
Thực cuộc đời anh còn bạc hơn vôi
Thôi đừng trách bởi nghề anh là vậy.

"Thôi bớt đi đừng ca ngợi tôi nữa bạn đời ơi!
Lời ca ấy chẳng làm tôi  no dạ, ấm lòng
Hãy trả lại cho tôi mọi thứ công bằng
Trả lại cho tôi tất cả những gì đáng ra tôi phải có?"

Cô đơn

Tác giả: Hải Anh

Chiều nay bên bờ Hồ Tây
bâng khuâng nhớ lại ngày này năm xưa
bên em, như một giấc mơ
nắm tay, vuốt má, em chờ nụ hôn.

Lăn tăn sóng nước gió vờn
môi hồng, răng trắng cười buồn với trăng
em xinh chẳng kém Chị Hằng
tim anh thổn thức rộn ràng niềm vui.

Đâu rồi, kỷ niệm xa xôi?
ai làm chia rẽ cuộc đời hai ta
trải qua năm tháng phôi pha
em đi xa mãi để ta một mình.

Cô đơn trống trải đã đành
nhưng sao khắc khoải năm canh đợi chờ
ước gì đó chỉ là mơ
sự thật đừng thế để thơ cạn lời.

Cuộc đời cứ thế trôi xuôi
để ta đơn chiếc lẻ loi một mình
nhớ nhung đến thế là cùng
gió trăng sóng nước xin đừng xa ta.

Để ta vui chút tuổi già
sầu thương tuy cạn vẫn là cô đơn
cô đơn trống trải tâm hồn
Hồ Tây sóng nước gió vờn tóc sương.

                  Hồ Tây chiều 2-9-2016

Ao sen thầm nhớ


Thương nàng ra tắm ao sen

Hai hoa chúm nở làm quen ghẹo mình

Hai sen hai nụ một hình

Ao làng chung một đoạn tình khoe hương...

Đường thơ



Giới thiệu: KS - Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

                                                                                              
Sinh ngày 26 – 12 - 1941.
Quê quán: Xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An
Học vấn: Đại học. 
Chuyên môn: Kỹ Sư Xây Dựng.
Sống và viết tại Hà Nội.
Cộng tác viên Tạp Chí  NGƯỜI XÂY DỰNG - TỔNG HỘI XDVN.
      
 Blog: Trang thơ Nguyễn Quang Huệ.
                                             Website: www.nguyenquanghue.nghesi.vn

             Tác phẩm đã xuất bản:

*       Gà mẹ gà con ( Thơ Thiếu nhi )                 NXB Thanh Niên
*       Dòng sông ký ức  ( Thơ )                          NXB Hội Nhà Văn
*       Cánh én mùa xuân  ( Thơ )                       NXB Hội Nhà Văn
*       Gấu và mèo  ( Thơ Thiếu nhi )                    NXB Thanh niên
*       Chợ quê ( Thơ )                                          NXB Văn Học
*       Dê trắng dê đen ( thơ Thiếu nhi )               NXB Thanh Niên
*       Công Chúa Ếch ( Thơ thiếu nhi )                NXB Văn Học
*       Ba bậc thềm nhà ( Thơ )                            NXB Văn Học
*       Bắc cầu vồng ( Thơ thiếu nhi chọn lọc )     NXB Hội Nhà Văn

               Được chọn giới thiệu thơ trong các tập:

*       Chân dung tác giả và tác phẩm văn học     NXB Hội Nhà Văn
*       Gương sáng – Chí bền                                NXB Văn Hóa Dân Tộc
*     Nhiều thơ đăng trong tạp chí Người Xây Dựng

              Hoạt động truyền thông:

·        2012:  Tham gia chương trình CLB Người yêu thơ của Đài Truyền hình VN
·      2014: Phóng sự của Đài Truyền hình Hà Nội: Nguyễn Quang Huệ- Hai trong một: Thơ thiếu nhi và thơ tình.
·      2015 là Đại biểu và là nhân vật trong phim truyền hình “Tiếng thơ vọng mãi” do 3 cơ quan: Đài TNVN, Viện Nghiên cứu Nhân tài Nhân lực và Thi Đàn VN đồng tổ chức.
·        2015: Tham gia Chương trình “Người yêu nghệ thuật” của VOV- TV Đài Tiếng nói VN: Giới thiệu về thơ Nguyễn Quang Huệ.
·      2016: Phóng sự của VOV- TV: “Nguyễn Quang Huệ - Những công trình và những vần thơ”.

Giải thưởng:

+ 1965:  Giải thưởng thơ của Đoàn các cơ quan Trung ương
+ 2015:  Giải thưởng tác phẩm thơ xuất sắc của năm do Trung tâm Văn hóa Hội NCT Việt Nam 
                bình chọn.
+ 2016:  Giải khuyến khích cuộc thi thơ toàn quốc " Gương sáng - Chí bền " do Thi Đàn Việt &   
                Văn phong sách và Tri thức Việt tổ chức. 

Lục bát gió

LỤC BÁT GIÓ của NGUYÊN NGUYÊN – THẮC THỎM YÊU THƯƠNG
Đã lần thấy gót chân trơn
Vẫn nghe đá vấp một cơn mòn chiều
Trăm năm rụng một đôi điều
Bên hiên chiếc lá còn yêu lấy mùa
Giang tay ôm ngọn gió lùa
Gió bao nhiêu ngọn cho vừa mùa đông
Tay vừa nắm lấy tay xong
Thân đã tận mà hồn không kịp già
Sóng lừng, bão gió giông xa
Nằm nom thương cả mái nhà còn sơ
Cây ưa nước đến tận giờ
Vẫn lo cái ngập mà thơ thắt lòng
Trông cơ trời đất xoay vòng
Mà lo lắng cái gánh gồng trần gian
Đã lần thấy ngón lầm than
Vẫn nghe tay vấp nỗi càn khôn. Xa!
(NGUYÊN NGUYÊN)
Tình cờ tôi vào mạng gặp blog Nguyên Nguyên (tên thật là Đinh Vân Anh), thấy chị viết nhiều bài thơ lục bát rất duyên mà cũng chất chứa tâm trạng, nghĩ suy về phận người, về thơ ca, về thời cuộc. Phải nói là có nhiều câu lục bát khá hay:
- Mưa trong - dù rất mưa trong
Vẫn mang tiếng đục giữa dòng đời trôi
- Vượt rào qua bức cách tân
Đâu hay chân đã sượng sần vì đêm
- Nỗi hờn nuốt ngược vào trong
Một cơn gió lạ nạ dòng cùng mây
Rất nhiều những câu thơ lục bát là lạ như thế trong thơ chị. Nhưng tôi lại thích cảm nhận cho bài LỤC BÁT GIÓ.
Gió vô hình. Nhưng gió ẩn chứa biết bao cung bậc. Gió mát, gió nóng, gió lạnh. Gió nhẹ, gió ngang, gió bão. Gió làm cho ta thấy mây bay, thuyền trôi, cây vẫy, tuyết nghiêng... Gió cũng đổ cây, đổ nhà, bay đá... Vì thế mà mở đầu bài thơ lại không phải là gió, mà là chân là đá. Chân cứng đá mềm lại gợi cho Nguyên Nguyên một điều gì không bình ổn, là bởi gió chăng:
Đã lần thấy gót chân trơn
Vẫn nghe đá vấp một cơn mòn chiều
Vào bài thơ như vậy kể cũng bất ngờ. Bất ngờ trong thơ thường gây cảm giác lạ. Từ mòn chiều không mới, nhưng đá vấp mà mòn chiều thì tạo nên cảm giác thơ lạ và ẩn ý.
Cũng vì cái ẩn ý gợi ấy mà tác giả liền đẩy tới chiêm ngẫm:
Trăm năm rụng một đôi điều
Bên hiên chiếc lá còn yêu lấy mùa
Thì dù có rụng rời nhưng còn quyến luyến lắm. Sự quyến luyến "còn yêu lấy mùa" của chiếc lá là do gió tạo nên, gió làm cho chiếc là chao liệng trước khi rơi về cội nguồn đất đai, cũng là cái quyến luyến không dứt của lòng người. Có lẽ vì thế mà Nguyên Nguyên không muốn sự rơi rụng tan đi theo gió:
Giang tay ôm ngọn gió lùa
Gió bao nhiêu ngọn cho vừa mùa đông
Tay vừa nắm lấy tay xong
Thân đã tận mà hồn không kịp già
Câu thơ "Thân đã tận mà hồn không kịp già" đầy chiêm nghiệm của một tâm hồn khát sống. Lúc đầu đọc câu này tôi thấy nó bị ngang vì cái vần trắc nằm ở chữ thứ hai, có thể sửa thành "Thân như đã tận hồn không kịp già" thì cái ý tưởng vẫn giữ nguyên mà nhịp thơ uyển chuyển hơn. Nhưng ngắt nhịp ba đầu câu này lại chính là một nhịp khẳng định cái sự tận của thân, cảm giác mạnh hơn. Thơ lục bát Nguyên Nguyên vẫn thường có những nhịp ngắt ngang ngang như thế, đặc biệt là hay dùng cái dấu chấm trước chữ cuối câu, kiểu như: "Vẫn nghe tay vấp nỗi càn khôn. Xa!"
Đến khổ thơ thứ ba, cấp gió trong bài thơ được gia tăng cao: "Sóng lừng, bão gió giông xa" thì cái quặn thắt trong hồn người cũng hiện lên cùng với niềm thương và nỗi lo:
Nằm nom thương cả mái nhà còn sơ
Cây ưa nước đến tận giờ
Vẫn lo cái ngập mà thơ thắt lòng
Chữ "nom" hơi khó hiểu. Có thể đấy là một từ cổ nom = nhìn, thấy chăng? Nhưng dù sao thì ta vẫn cảm được cái tình thương và nỗi lo thắt lòng của người thơ tự coi mình là "thân tận". Và cái nỗi lo ấy như càng mở rộng hơn đến nhân tình thế thái:
Trông cơ trời đất xoay vòng
Mà lo lắng cái gánh gồng trần gian
Đến đây thì gió không còn là gió nữa. Gió là nỗi bời bời gan ruột của con người. Bão nổi trong lòng người mà thấy xoay vòng trời đất. Và cái hạnh phúc lầm than ấy có cơ bị cuốn mất chăng? Ta thấy thật thương cảm khi câu thơ kết lại trở về hình ảnh "lần" tìm cái hạnh phúc nhỏ nhoi mà vô cùng quan trong với con người, nhưng không chỉ là lần thấy gót (chân) mà lần thấy ngón (chân) rồi:
Đã lần thấy ngón lầm than
Vẫn nghe tay vấp nỗi càn khôn. Xa!
Chao ôi, chân không vấp mà tay lại vấp. Tay không vấp đá mà vấp càn khôn. Chữ "xa" đứng riêng lẻ với một dấu chấm than (!) bỗng mở ra một nỗi buồn lo vô tận, sợ gió cuốn đi, cướp đi những yêu thương, hạnh phúc nhỏ bé ở đời...
Bài thơ chỉ bốn khổ 16 dòng mà gói lại cả gió và người, cả yêu thương và sợ hãi, cả mất mát và khát khao. Đó cũng là cảm giác của tôi khi đọc LỤC BÁT GIÓ, cái cảm giác thắc thỏm trước tình yêu và vũ trụ.
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Bình luận

Ý kiến Nhà thơ

 Kính gửi Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.
Tôi xin phép anh đăng lại bài viết này của anh lên trang cá nhân để bạn bè tôi cùng tham khảo. Anh vui lòng nhé.

THƠ VÀ THƠ... (2) Tiếp theo
3. Ai đó nói rằng, cá tính sáng tạo bị triệt tiêu thì văn học có chung một gương mặt, đấy là cái mặt nạ của thần chết. Sự tôn trọng cá tính, phong cách, trường phái bao giờ cũng làm cho văn học phong phú và đa phức. Có thơ đọc để hiểu và có thơ đọc để cảm. Từ lâu, Cao Bá Quát đã chạm tới cái thăm thẳm của thơ khi ông cho rằng “Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi” (tức tâm liễu nghĩa chân như si). Hoài Thanh trở thành một nhà phê bình thơ quán quân của thế kỷ khi ông đọc nó bằng con mắt trực giác, cùng với sự quan tâm đến đời sống riêng biệt của từng thi sĩ. “Một nền phê bình hay, thường ra đời từ sự thân quen (với tác giả) và từ sự tiếp xúc thường xuyên lâu dài với tác phẩm được đánh giá”- Nhận xét này của Octavio Paz có vẻ trái ngược với những “nhà phê bình khách quan”, nhưng thực ra đây là một gợi ý đáng để giới phê bình lưu ý, đặc biệt khi họ phải tiếp cận những giá trị mới có tính khai mở trên hệ thống ngôn ngữ mới phức tạp và đa nghĩa. Khi thơ ca trong tình hình “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” thì sẽ xuất hiện vô số niềm vui tầm tầm, nỗi buồn tầm tầm, yêu ghét tầm tầm, có nghĩa là vô số những tác phẩm tầm tầm, cỏ dại lấn át những mầm cây. Cái tài của nhà phê bình không phải là đốt cỏ (hẳn sẽ làm thui chột các mầm cây) mà phải phát hiện ra các mầm cây để nâng niu chăm sóc nó. Có như thế mới giúp cho người đọc phân biệt được CÂY với cỏ. Đừng sợ cỏ, cỏ mãi mãi vẫn chỉ là cỏ mà thôi. Vấn đề đáng lưu ý đối với phê bình thơ của ta gần đây là: Khi thì nhầm cỏ là CÂY, khi lại nhầm CÂY là cỏ.
4. Một nữ tiến sỹ Nhật bản - chị Mori - thạo nhiều ngoại ngữ (khá sành tiếng Việt) và đang tìm hiểu văn học Việt nam, sau khi nghe nhà thơ Hoàng Cầm và mấy nhà thơ ta đọc thơ đã không kìm được xúc động, liền nhận xét: “Tôi thấy thơ Việt Nam hay không kém thơ thế giới mà tôi đã được đọc!” Đấy không phải là một nhận xét “ngoại giao”, mà là một sự khám phá về ngôn ngữ thơ Việt. Nghệ thuật thơ Việt với những cuộc cách mạng và thành tựu của nó đã tôn vinh tiếng Việt lên tới những đỉnh cao rực rỡ qua nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà hay Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Bích Khê, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Quang Dũng, ... Thế hệ thơ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cũng tạo nên một cuộc đi dài với những đóng góp đáng kể ở giai đoạn “sau chống Mỹ”. Trong những năm gần đây, có người quan niệm rằng thơ ta cần tước bỏ những rườm rà ngôn ngữ mà chỉ cần hướng tới các ý tưởng hay “thông điệp” để dễ được dịch ra tiếng Anh, (hay các ngoại ngữ khác) mới mong truyền bá ra thế giới; ngược lại có người lại cho rằng cần “phôn-clo hóa cho thơ” mới dễ dàng phổ cập thơ trong đời sống thị trường đầy xáo trộn ở nước ta. Cả hai quan niệm ấy đều sai lầm khi chối từ chức phận của ngôn ngữ đa nghĩa tạo ra tính hấp dẫn đặc thù của thơ nói chung và thơ Việt nói riêng. Chính các nhà thơ phải biết mang tới cho dân tộc mình một ngôn ngữ thơ sinh động và mới mẻ. Nói như Hêghen: “Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ”. Tôi đọc lại thơ Việt qua các kiệt tác, các tuyển tập và những tập thơ đương đại, thiển nghĩ rằng cũng chẳng có gì đáng hổ thẹn trước thơ của các dân tộc khác. Chúng ta cần khiêm tốn học hỏi, nhưng cũng không nên quá tự ti khi thơ ta ít được truyền bá trên thế giới. Việc chuyển ngữ từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài là cả một vấn đề lớn, như có lần (1994) tôi đã viết trên báo Văn Nghệ và trả lời đài RFI rằng, quá hiếm những nhà thơ nước ngoài thông thạo ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam. Dịch thơ là tái tạo bài thơ trên một ngôn ngữ khác, không phải ai thạo tiếng nước ngoài là cũng dịch thơ hay được. Phải có những nhà thơ nước ngoài dịch thơ Việt như nhiều nhà thơ Việt đã dịch thơ nước ngoài. Muốn có được điều đó, nhà nước cần phải có một chiến lược đào tạo mới hòng mở mày mở mặt cho thơ Việt ra cùng thế giới đúng như nó vốn có, chứ không phải là nó mang bộ mặt méo mó dị dạng như hiện tại. Có thể nói, đây là một “thiệt thòi” lớn cho thơ Việt cần được khắc phục trong tương lai.
(Còn tiếp)
Xem phần 1 ở đây: https://www.facebook.com/nguyentrongtao/posts/10205891929291950

THƠ VÀ THƠ (3) Tiếp theo và hết.
5. Thời nào cũng xuất hiện những nhà thơ trẻ. Họ trẻ cả về tuổi đời và trẻ trung trong cảm xúc, tư duy và ngôn từ. Họ tạo ra hình thức như chính họ không an bài trong những “kiểu mốt” thời trang quen thuộc ngoài đời. Sự “đập phá” những khuôn thước cũ để đưa ra những hình mẫu mới là bản chất, hay nói cách khác là tâm lý chung của tuổi trẻ khao khát sáng tạo nhằm khẳng định chính mình. Trong thơ, sự xuất hiện những gương mặt trẻ có cá tính thường dễ gây “sốc” cho những người vốn đã quen chiêm ngưỡng những giá trị ổn định. Vấn đề “đạp đổ thần tượng” là một vấn đề khó được chấp nhận, vì chưa có thần tượng mới thay thế, vì tâm lý sụp đổ thần tượng hình như chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ. Vậy nên, những cú “sốc” của đối tượng tiếp nhận thơ “khác chuẩn” là không thể tránh khỏi.
Nhưng không chỉ có thế. Vẫn có những người đọc thơ chán ghét sự nhàm chán, cũ kỹ, sáo mòn đến vô cảm của thơ, và họ khao khát cái mới, khao khát sự đổi thay, làm phong phú thi đàn, cũng có nghĩa là làm phong phú hơn tâm hồn của con người thời đại. Bởi chính thời đại luôn vận động, và nhiều quan niệm về thẩm mỹ, lối sống, đạo đức, kinh tế, chính trị… cũng dần đổi thay cùng thời đại của nó. Sự xuất hiện những giọng điệu mới lạ, những tên tuổi chưa quen (không chỉ của thế hệ trẻ) như một nhu cầu khẩn thiết đối với họ. Và sự bắt gặp này lại mang tới cho họ niềm vui, nỗi buồn, thất vọng và hy vọng.
Gần đây (mươi lăm năm qua), vấn đề tình dục trong văn học ở ta luôn được “soi kính lúp”. Nhiều nhà thơ nhà văn động bút vào tình dục luôn được coi là những đối tượng “cần xem xét”, bởi họ đã động vào hàng rào “cấm kỵ” không văn bản của xã hội cộng đồng. Chính vì thế mà tác phẩm của những người thực sự trẻ cả tuổi đời lẫn quan niệm văn chương được đưa ra mổ xẻ không thương tiếc, và đã trở thành những cuộc tranh luận, bút chiến không phân thắng bại giữa các nhà phê bình không cùng quan niệm, còn các tác giả thì ngậm ngùi đau đớn mang trong mình “nỗi oan Thị Kính” mà không sao giải toả.
6. gần hai chục năm qua, có thể nói đấy là thời xuất hiện và khẳng định của nhiều nhà thơ trẻ. Tôi muốn nhắc đến những người mà ngay từ khi họ mới xuất hiện đã gây cho tôi sự chú ý và hào hứng viết bài cổ suý, đề cao hoặc lưu ý đến họ. Hiện tượng Văn Cầm Hải ở Huế với tập thơ "Người đi chăn sóng biển" phải đưa qua 3 nhà xuất bản mới được cho phép in, không phải vì phạm luật cấm mà chỉ vì “thơ lạ quá, đọc không hiểu”. Tám năm sau, tập thơ thứ hai của Hải cũng bị nhận xét đúng như thế, và khác với tập trước là không đâu cấp phép cho in. Nhưng thơ Hải lại được dịch ra tiếng Anh khá nhiều, và xuất hiện trong một số tuyển tập quan trọng trong nước và nước ngoài. Và Hải đã phải trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam bằng 2 tập bút ký độc đáo, và “khó đọc” không kém gì thơ Hải. Hiện tượng Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh Tiến, Đặng Hà My, Thy Nguyên, Trương Quế Chi, Nguyễn Thị Quế Mai, Du Nguyên, Lữ Thị Mai, Trần Mai Hường, Nguyễn Phong Việt, Nồng Nàn Phố, Thái Thuận Minh, Lương Đình Khoa... cũng đều là những nhà thơ trẻ sắc sảo, gai góc và sành điệu ngôn từ. Qua thời gian, người đi lên, kẻ đi lùi hoặc dừng lại, âu cũng là lẽ thường của sáng tạo.
Vâng, thời gian trôi qua, và những gì đáng còn lại thì cứ còn lại. Thơ trẻ dần dần khẳng định vị trí của họ. Thực tế tâm hồn họ không có chiến tranh đẫm máu như thế hệ cha anh. Họ có thực tế của thời bình mở cửa và hội nhập cũng đầy ba động, thách thức mỗi thân phận con người. Thơ họ đang tiếp cận với xu hướng đó.
7. Thơ ta vẫn đang hay, nhưng cái hay có vẻ êm ái, mơn man, rả rích trong mỗi ngõ nhỏ của đời sống tình cảm, mà nó thiếu một “cú hích” mạnh, một tư tưởng lớn tạo ra sự đột biến kinh ngạc trong đời sống văn học. Không ít các nhà thơ thoả hiệp với tiếng vỗ tay trong trò chơi giải trí của đám đông kiểu “vui chơi có thưởng” xuất hiện nhan nhản gần đây. Thơ không phải là khẩu hiệu chữ to để có thể phơi phóng trên các ngã ba ngã tư hay tầm gửi vào các phương tiện quảng cáo tiếp thị dung thô mà không ít người ngộ nhận. Cái mà thơ ta cần hướng tới là một cuộc cách mạng tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật. Đấy không phải là cuộc cách mạng chối bỏ di sản thơ, mà tạo ra những di sản mới vừa khác biệt lại vừa mang tính kế thừa. Trong sáng tạo, các cá nhân có quyền chối bỏ và phủ nhận kẻ khác để làm nên chính mình, tất nhiên điều đó không đồng nghĩa với sự cắt đứt văn hóa hay văn minh mà các cá nhân cùng tiếp nhận. Nếu một nhà thơ nào đó tuyên bố “tôi không thích Nguyễn Du” thì cũng chẳng can hại gì đến uy tín lớn lao của nhà đại thi hào. Vấn đề là anh có dám từ giã cái cũ để làm nên cái mới hay không mà thôi. Ý tôi muốn nói là Thơ ta không thể an bài với thành tựu đã có, mà cần can đảm, táo bạo hơn để bước qua chính mình. Hoặc nói như Eptusenco là: “Hãy đấm vào bức tường, có thể vỡ tay đấy, nhưng cũng có thể làm vỡ bức tường”.

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Con hãy về với má

 

Nghĩa trang Trường Sơn
Đã bao mùa lá rụng                     
Sao con lại không về?
Lòng Má càng tái tê
Ngóng chờ con từng phút.

Tuổi xanh con xếp bút
Theo con đường Ba đi
Từ đất nước chia ly
Giờ đã liền một giải.

Má mong chờ con mãi
Sao con lại không về?
Ba đã trọn lời thề
Chỉ còn con hy vọng!

Hay con về báo mộng
Cho Má một lần thôi!
Con đang ở trên đồi
Hay chơi vơi bờ suối?

Ở cây cao bóng núi
Ở ngay giữa đồng bằng?
Giữa thành phố huy hoàng
Hay làng quê cuối hạ?

Nếu con về với Má
Hãy đi thẳng vào nhà
Đừng dừng bước nữa mà
Đừng đứng nhìn ngoài ngõ!

Nhà cửa ta ở đó
Má chỉ mong con về
Bằng không Má sẽ đi
Tìm con về với Má!...



 Đã bao mùa lá rụng                     
Sao con lại không về?
Lòng Má càng tái tê
Ngóng chờ con từng phút.

Tuổi xanh con xếp bút
Theo con đường Ba đi
Từ đất nước chia ly
Giờ đã liền một giải.

Má mong chờ con mãi
Sao con lại không về?
Ba đã trọn lời thề
Chỉ còn con hy vọng!

Hay con về báo mộng
Cho Má một lần thôi!
Con đang ở trên đồi
Hay chơi vơi bờ suối?

Ở cây cao bóng núi
Ở ngay giữa đồng bằng?
Giữa thành phố huy hoàng
Hay làng quê cuối hạ?

Nếu con về với Má
Hãy đi thẳng vào nhà
Đừng dừng bước nữa mà
Đừng đứng nhìn ngoài ngõ!

Nhà cửa ta ở đó
Má chỉ mong con về
Bằng không Má sẽ đi
Tìm con về với Má!...


      Sau khi tôi gửi tới nhà thơ Nguyễn Quang Thiều xin ý kiến nhận xét về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phảm này, anh đã có ý kiến phản hồi như sau:

       Kính gửi nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

Cám ơn anh đã cho đọc bài thơ của anh. Một câu chuyện đau thương và xúc động được dựng lên với một thể thơ truyền thống rất phù hợp. Câu chữ xúc tích nhưng rung cảm và sâu sắc.

        Kính chúc anh mạnh khỏe, sáng tác hay.
                                 Nguyễn Quang Thiều

Ba mươi mùa sen nở



( Kỷ niệm 30 năm tạp chí
"Người Xây Dựng" ra số đầu tiên )

Kể từ ngày đó đến nay(1)
Ba mươi mùa ấy sen này đã qua
Sắc sen ngày một đậm đà
Hồng đào bao nhị vàng hoa dâng đời.

"NGƯỜI XÂY DỰNG" chính là nơi
Vững vàng tạp chí càng ngời sức xuân
Đến tay bạn đọc bao lần
Mỗi năm sáu bận người thân đợi chờ.

Ngỡ ngàng qua những vần thơ
Cùng bao bài viết chân tơ rạch ròi
Công trình mới lạ khắp nơi
In vào trang giấy - nhiều lời khen hay
Nay cầm tạp chí trên tay
Yêu "NGƯỜI XÂY DỰNG" báo đây thỏa lòng.

Ba mươi năm địa chỉ hồng
Tình người để lại từ trong ra ngoài
Bắc Nam chung một lâu đài
Trong từng số báo cho ai kiếm tìm?…

(1) 1987

Chiếc ghế mẹ ngồi

Cụ Nguyễn thị Thoán ( 1901- 1987 )
(Kỷ niệm mùa Vu Lan)

Chiếc ghế gỗ đơn sơ
mẹ dùng ngồi đun nấu
chăm con - rồi bế cháu
mong chúng lớn từng ngày.

Kể từ đó đến nay
mấy chục mùa lá rụng
con về nào thấy bóng
mẹ ngồi trên ghế xưa?

Bếp đã lạnh bao mùa
đâu còn rơm còn rạ?
nồi niêu đâu hết cả?
chỉ còn ghế mẹ ngồi!...

Lòng con lại bồi hồi
nhớ những ngày thơ bé
đưa bát cơm mẹ sẻ
dành cho con phần nhiều...

Con ơn mẹ bao nhiêu
lại ngắm nhìn chiếc ghế
một thời hình bóng mẹ
đã in vào đời con...


Nàng lọ lem



Cô gái Việt Nam đang đi trên đất Síp 
người Á Đông đẹp hơn gái Tây Phương
áo màu mây trông hấp dẫn lạ thường
hàm răng trắng nụ cười thêm quyến rũ.

Đôi dép đen trên đôi chân vừa đủ
túi Guci mang nhẹ ở bên mình
quần ngắn vừa tầm khoe chân trắng rất xinh
và nhẹ bước trên đường hoa lát đá.

Trông thanh thản có cần chi vội vã
thêm rạng ngời trên đường phố nàng qua
từ tóc đến chân mang bóng dáng điệu đà
nào ai biết nàng lọ lem xứ Nghệ...

Nguyễn Quang Huệ - Những công trình và những vần thơ

lăng mộ đá toyota thanh hóa