Câu chuyện thứ nhất: CỨ ĐỂ XEM SAO
Chuyện vui bên bàn tiệc rượu
Tuổi bát niên
Chủ nhật, các bạn tuổi sắp bát niên tụ tập bên bàn rượu và mấy đĩa mồi ngẫm nghĩ bàn luận về quãng đời đã sống sao mà vui, mà tình cảm đến vậy. Còn lại từ giờ về sau buồn nhiều hơn vui, chờ đợi bao nỗi lo toan đến với mình. Tôi có mấy câu động viên các bạn:
Tuổi xuân đâu mãi tới già?
Đến bát niên đã thấu qua cuộc đời
Tóc xanh trả lại cho trời
Dành quên, nhường nhớ cho người thanh xuân
Lưng còng đi lại thêm gần
Tóc màu mây trắng chờ lần thiên thu...
Đời người tựa trái mù u
Trải qua bao bận mây mù bão giông
Một đời gạn đục khơi trong
Đến khi tắt nắng nhẹ lòng thăng thiên...
( Không có gì phải buồn, ngoại trừ ăn không ăn được, ngủ không ngủ được, bệnh tật đau đớn dầm dề phiền hà đến con cháu thì chết còn hơn sống... )
Bạn đến chơi nhà
Nhân dịp Kiến trúc sư ( KTS ) Diêu Tuấn vừa ở Sài Gòn ra Hà Nội, cùng các KTS Vũ Đình Phàm, Tạ Vạn, họa sĩ Vũ Đăng Đính, Các KS Trương Nguyên Mân, Xuân Hòe , Phan Tuệ...đến nhà chơi. Các bạn cùng là cán bộ của Viện Thiết Kế dân dung Bộ Xây Dựng từ 1962 - 1980. Tôi có mấy lời chào mừng các bạn.
Hôm nay bạn đến thăm nhà
nhớ cơm độn sắn dưa cà ngày xưa
ôn thời bao cấp gió mưa
áo luôn 'cháy túi' vẫn đùa vẫn vui
củ khoai chia ngọt sẻ bùi
bom thù có nổ vẫn cười ngại chi
lạc quan sống chết cần gì
súng lên bệ đỡ chờ khi bóp cò...
Bây giờ chẳng tính chẳng lo
lương hưu cũng đủ sống cho qua ngày
gặp nhau tay nắm chặt tay
nhắc thời vẫn gọi tao mày đã qua
nhớ bao người bạn đi xa
người còn tóc trắng như là mây bay
nâng chai rót chén rượu này
biết còn mấy bận có ngày gặp nhau?...
Chim sẻ

Đàn chim sẻ đua nhau ríu rít
nhảy nhót quanh rơm tìm cộng rác tha về
bẹ cau xanh trên cao đan thành tổ ấm
tha cả nắng vàng rải khắp sân quê.
Bốn quả trứng xinh cựa mình vỡ vỏ
bốn con non há miệng chờ mồi
chim cha mẹ thay nhau săn bắt
châu chấu cào cào sâu bọ về nuôi.
Chim con lớn dần theo cha mẹ đi chơi
tập bay trong bầu trời nắng ấm
mỗi ngày một cao, vào không gian xa thẳm
đến lúc lớn khôn tìm bạn kết đôi
theo vòng đời xuôi ngược lần hồi
qua nắng qua mưa những ngày đông tháng giá
chim vẫn vô tư quanh sân quanh tường rào mái rạ
giống chim nhà gắn bó với người và cây trái quanh năm
chia sẻ nỗi buồn vui khi hạt thóc nẩy mầm
góc sân quê chứa chan tình bầu bạn
chích chích vui tai chim kêu mỗi sáng
như cùng người chung nắng ấm ban mai
có đâu bằng đàn chim sẻ quê tôi...
Sách mới
Thưa các bạn.
Tôi vừa xuất bản tập thơ thiếu nhi ( Tuyển tập ) BẮC CẦU VỒNG. Đây là tập thơ thứ 9 các bạn ạ. Trong lòng day dứt chẳng làm được điều gì cho các cháu. Thôi thì lấy con ong cái kiến xây dựng nhân vật để từ những lời mộc mạc góp phần xây dựng nhân cách và mua vui cho trẻ. Thay vì các cháu đọc chuyện tranh, chơi ghêm của nước ngoài. Sách dày 292 trang in trên giấy tốt. Xin mời các bạn, các bậc phụ huynh, thầy cô giáo cùng các cháu xem nhé. Hãy tìm mua sách làm quà cho các cháu nhân dịp Ngày Nhà Giáo VN, đón NOEN, tết dương lịch và tết Đinh Dậu sắp tới các bạn ạ.Sau đây tôi xin trích vài bài trong hơn 114 bài thơ đã được in trong tập thơ này.
HƯƠU CAO CỔ
Chị dẫn chơi công viên
Em thấy hươu cao cổ
Trông hươu thật là ngộ
Cái cổ quá là dài
Chân cao đuôi lại ngắn
Cái cổ dài gấp hai...
Cho chị hỏi hươu này
- Cổ mày sao dài thế?
Hươu trả lời thật dễ
- Lá cỏ ở dưới chân
Trâu bò đã tranh phần
Có còn chi hươu sống?...
Thượng đế thấy cảm động
Đã nối cổ cho hươu
Nối thêm chân cho cao
Để hươu ăn cành ngọn...
CHÚ HỔ XÁM
Chú hổ xám gầm gào
Tiếng va vào vách núi
Từ từ đi xuống suối
Tiếng dội lại oang oang.
Hổ xám bước nhẹ nhàng
Vừa đi vừa nghĩ ngợi
Chắc thằng nào vừa tới
Chiếm địa giới của mình!
Chú xuống suối rất nhanh
Vừa rình vừa uống nước
Mắt chú hổ trợn ngược
Đúng là nó đây rồi...
-Sao mày giám đến nơi
Tao hiện đang nắm giữ?
Rừng này của tao chứ
Tao không tha cho mày...
Nói rồi nhảy xuống ngay
Nước ngập lên đến cổ
Nhưng nào đâu thấy hổ?
Suýt nữa lại toi đời!...
Cuội trên cao mỉm cười
Bảo rằng mày nhầm đấy
Bóng mày tao cũng thấy
Nhầm quá rồi hổ ơi!...
Bóng mày ở kia thôi
Không tin mày soi lại
Nhưng hổ ơi đừng dại
Xuống suối chết có ngày.
Hổ xây xẩm mặt mày
Ờ sao mình ngốc thế?
Cái bóng thật tồi tệ
Lừa cả Chúa Sơn Lâm...
Ai hiểu em?
Ai gần nhà hãy tặng em một chiếc xe lăn

Trông tội quá em ơi sao vất vả
Muốn thêm chữ em bò trên đường đá
Những ngày khô đã thế lụt làm sao?...
Đời tật nguyền không cản nổi ước ao
Miễn kiến thức nhập được vào trí tuệ
Em đâu quản khó khăn dâu bể
Muốn tự thân không muốn dựa mọi người
Ôi tuyệt vời mơ ước của em tôi...
Anh vẫn biết
Tác giả Đỗ Anh Thư
Anh vẫn biết mắt em như biển rộng
Biển nhấn chìm anh dưới sóng đại dương
Anh vẫn biết môi em là trái mọng
Trái nếm xong anh dạo chốn vô thường
Phủ thân anh như vải liệm vô hồn
Anh vẫn biết tim em là cung cấm
Chốn ngục tù giam lỏng kẻ cô đơn
Anh vẫn biết tình em như độc dược
Rất ngọt ngào cho anh ngấm hồn mơ
Anh vẫn biết vòng tay em êm mượt
Tựa Mãng xà quấn chặt thỏ non tơ
Và anh biết những gì anh đã biết
Chỉ để anh mê đắm đến vạn lần
Anh cũng biết yêu em là phải chết
Vẫn nguyện lòng yêu đến rã rời thân.
ATĐ.
2015
Công thầy cô
( Kỷ niệm ngày nhà giáo VN 20 / 11 )
Chữ này con gói làm quà
Chữ này con để cả nhà cùng xem
Chữ này cho bạn cho em
Sẻ chia những phút ấm êm tình buồn.
Công thầy như lạch suối tuôn
Dạy rèn chữ đức, trí khôn hàng ngày
Biết bao ý đẹp lời hay
Công thầy, cô suốt tháng ngày bao dung...
Phiên chợ Bắc Hà
![]() |
| Phụ nữ Hơ Mông |
Ai đi Tây Bắc xa xôi
Ghé vào phiên chợ cùng tôi: Bắc Hà
Rượu ngô bày chật phố nhà
Mật ong chính hiệu làm quà về xuôi.
Mận Tam hoa đã chín rồi
Dãy dài mọng đỏ cả trời Lào Cai
Người đi vào chợ ken dày
Thêm vui gặp bạn cả ngày chợ phiên.
Váy hoa đẹp nối đăng ten
Đem ra chưng diện cho duyên thêm nồng
Ai đi chọn vợ tìm chồng
Cùng con ngựa khỏe người Mông dẫn đường.
Cùng tìm chỗ hẹn người thương
Vào hàng thắng cố vấn vương chợ tình.
Bát rượu ngô ta với mình
Có xuôi về bản cùng anh thì về...
Hoa tam giác mạch
Thưa các bạn.
Tôi cho đăng lại bài này để ôn lại những kỷ niệm khó quên ở cao nguyên đá Đồng Văn - Hà Giang. Qua chuyến đi này tôi có bài thơ mà tôi nhớ mãi. Mời các bạn cùng xem lại nhé.
Ven đường ngoài ruộng vườn nhà
Trắng vàng hồng tím hoa cà hoa chanh.
Đủ màu thỏa sức yến oanh
Đung đưa theo gió mát lành Hà Giang
Ta như lạc giữa thiên đàng
Mây trời đá núi kết hàng tri âm...
Hoa cùng đá khoe sắc xuân
Cao nguyên mây phủ trong ngần suối reo
Gái Mông chân bước lên đèo
Trở về gùi nặng hương chiều hoa vương.
Bất cập
Tác giả: Nguyễn Hải Anh
Trời cuối thu nhè nhẹ mưa bay
Ai kéo chân ta đến chốn này
Gặp em trò chuyện trong giây lát
Sao nỡ để anh đến đắm say?
Em nói với anh em cũng vậy
Mới gặp đã có cảm tình ngay
Sao anh lịch lãm thanh cao thế
Muốn cùng anh kết bạn sum vầy.
Em còn muốn anh là điểm tựa
Cho em đi tiếp bước cuộc đời
Nhưng anh ngập ngừng đâu có giám
Bởi quỹ thời gian chỉ có hạn
Lại còn bao việc phải lo toan...
Thôi nhé em ơi anh không thể
Lời khước từ này... đốt cháy trái tim anh
Buồn lắm anh ơi em không thể
Lời khước từ này ...tan nát trái tim anh.
Suy nghĩ về thơ
Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý
Nguyễn Hữu Quý
THƠ, TIẾNG NÓI CỦA MỘT TRÁI TIM ĐẾN VỚI NHIỀU TRÁI TIM
"Lệ xin giọt cuối để dành/ Trên phần mộ mẹ, nương hình bóng cha/ Cây cau cũ, giại hiên nhà/ Còn nghe gió thổi sông xa một lần/ Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần…rồi mẹ hãy dần dần đi…"(Bờ sông vẫn gió). Những câu thơ giản dị và xúc động ấy, Trúc Thông viết cho ai? Trước hết, như lời anh đề tựa ở bài thơ "Bờ sông vẫn gió": “Chị em con kính dâng hương hồn mẹ”. Địa chỉ anh gửi đến đầu tiên là mẹ, dẫu bây giờ người đã ở cõi hư vô. Anh viết cho mình, cho chị gái và cho tất cả những người thân của anh trong niềm thương nhớ vô biên người mẹ tảo tần đã khuất. Bên bờ sông hiu hiu gió, anh cầu xin mẹ thêm một lần trở lại; trở lại với hình dáng đường nét khuôn mặt vô cùng thân thuộc của người, đặng cho nỗi nhớ của các con vợi bớt đôi phần. Ai đã mồ côi mẹ và ai vẫn còn hạnh phúc có mẹ trên đời hẳn cũng đều rưng rưng khi đọc bài thơ này. Nỗi niềm riêng đã lan tỏa, truyền cảm thành nỗi niềm chung của nhiều người. Thơ, như ai từng xác nhận trong trường hợp này là tiếng nói của trái tim đã đến được với không ít trái tim khác.
Một giọng thơ khác, trẻ hơn, chưa hẳn là hiện đại nhưng đã có điểm khác với truyền thống: "Bóng mẹ ngồi khâu đêm/ sợi chỉ xe những đường gân xanh/ lặng lẽ đổ khuôn bóng tối/ bóng bà ngoại lưng còng ngõ nắng/ tóc cước rưng rưng/ quang gánh rẽ về thiên cổ". Những câu thơ nhiều hoài niệm ấy Trần Kim Hoa hẳn không muốn chỉ viết riêng cho mình bởi sau tình yêu thương ruột rà máu mủ dành cho mẹ và bà, nữ nhà thơ muốn tìm sự chia sẻ đồng cảm ở bao tâm hồn khác.
Đấy là ước muốn tự nhiên, là khao khát của không ít người làm thơ - một thể loại văn học trữ tình đã xuất hiện hàng nghìn năm nay. Những câu thơ, bài thơ vượt thời gian, nằm lòng nhân loại bao thế kỷ chính vì nó đã giải mã được chiều sâu tâm hồn con người bằng những diễn đạt tinh tế và khúc chiết nhất. Sự sáng tạo không thể không bắt đầu bằng sự phát hiện cuộc sống và nó được khai triển bằng những lối đi nghệ thuật riêng mang dấu ấn của cá thể nhưng không xa lạ với dân tộc và nhân loại. Nói gì thì nói đặc trưng của ngôn ngữ thơ vẫn là biểu đạt tình cảm. Thơ vẫn dành để thông qua hình tượng ngôn ngữ người cầm bút gửi gắm cái tình, cái chí của mình trong đó. Điều này cũng xưa cổ như thể loại văn học này vậy.Thơ hiện nay, lắm khi ta tưởng tác giả nghĩ nhiều hơn cảm, nhưng ngẫm kỹ thì cái nghĩ đó không thể không mang rung động của người sáng tác. Ngay đến một câu nói cũng bị trạng thái tình cảm chi phối huống hồ là thơ. Thơ vần, thơ không vần, thơ văn xuôi, thơ truyền thống hay thơ hiện đại cũng đều không vượt ra khỏi quy luật của cảm xúc, sự thăng hoa xuất thần của tâm hồn là cơ hội để người sáng tác tìm gặp được những ý thơ, tứ thơ, câu thơ, bài thơ hay. Sự thăng hoa có thể đến bất chợt khi nhà thơ chưa ngồi trước bàn phím hay cầm bút nhưng nó cũng có thể xuất hiện trong quá trình sáng tạo của họ. Đấy là ánh chớp của đam mê, là bùng nổ của mắt bão, là trào vọt của nham thạch, là tràn dâng của đỉnh lũ.
Người ta đang nói nhiều tới sự cách tân trong thơ. Cách tân! Muốn thơ có mặt trong cuộc sống đương đại và cả mai sau nữa, không còn con đường nào khác phải cách tân. Nhưng theo tôi, sự cách tân không phải là đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm, tôn vinh thác loạn, đưa hủ bại lên ngôi. Sự cách tân không phải là đốt quá khứ trong nỗi ngông cuồng được trở thành sao chói lọi trên bầu trời thi ca. Cách tân xa lạ với tùy tiện, cẩu thả, rối mù, hủ nút, đánh đố người đọc. Cử nhân, thạc sỹ cho đến tiến sĩ văn học cũng chẳng cảm nhận nổi, không hiểu được tác giả nói gì trong bài thơ của họ. Chớ lầm tưởng rằng thơ hiện đại, thơ mới phải là thơ khó hiểu; thơ dễ hiểu thuộc về kiểu thơ cũ, thơ truyền thống. Thực ra khó hiểu hay dễ hiểu không phải là tiêu chí của thơ, mà thơ hay chính là sự lay động người đọc ở cảm xúc mạnh, ở tính đa nghĩa của hình tượng, ở sự hợp lý đắc địa của ngôn từ. Giá trị của thơ nằm ở việc phát hiện vấn đề, tìm và dựng tứ độc đáo, ở tính sáng tạo trong thiết lập cấu trúc bài, chọn lựa hình tượng khác lạ, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ nhuần nhuyễn đổi mới.
Thơ muôn đời mang tính kế thừa. Hệ quả của những dè bỉu, mỉa mai, chà đạp, đoạn tuyệt truyền thống là sự giả tạo, hống hớt, hởm hĩnh, lai căng, mất gốc và một kết cục đuối sức, hụt hơi, èo uột, tự chết là khó tránh khỏi. Trong những năm qua, có mấy người làm thơ cuồng chữ được vài ông bầu đưa lên sân khấu văn chương, qua kỹ nghệ soi chiếu của ánh sáng lăng xê và khuyếch đại của âm thanh tâng bốc bỗng chốc biến thành thiên tài dân tộc, người đảm nhận sứ mệnh cứu nền thi ca đất nước đang lụn bại(!). Kết quả ra sao, phần lớn tan nát trong thời gian rất ngắn. Những cái được tôn sùng vội vã bị chết yểu giữa thanh thiên bạch nhật. Thơ sẽ tự chết khi không bám được vào cuộc sống đời thường. Đó chính là bài học vỡ lòng cho những người làm thơ.
Giấc mơ vòng nguyệt quế không có tội gì nhưng xin đừng ngộ nhận về tài năng. Ngọn đuốc soi đường khác hoàn toàn với mồi lửa của kẻ đốt đền. Thơ, là sứ giả của tình yêu, trong cuộc chạy tiếp sức của nhân loại, nó bồi đắp tiếp tế năng lượng cho tâm hồn, không chỉ cho một người mà cho nhiều người. Vì thế, thơ cần sự sáng tạo lại ngoài tác giả, để được truyền cảm, nhân lên trong những cảm thông, bênh vực, nâng đỡ không ngừng. Thơ gắn với đời, trong những lấm láp ruộng đồng, trong mặn mòi biển cả, trong khuất lấp nẻo rừng, trong xô bồ phố thị với từng hớn hở hay đớn đau của cuộc sống, bắt đầu từ một đến mười, mười đến một trăm rồi nghìn, vạn, triệu.
Những bài thơ hay sớm muộn sẽ trở thành tài sản chung của nhiều người. Tại sao những bài thơ hay lại được nhiều người biết, nhiều người nhớ, nhiều người thuộc. Bí quyết của nó là gì? Phải chăng, soi vào đó người ta nhận ra gương mặt tâm hồn của mình. Lặng lẽ , chậm rải đọc lại những bài thơ hay của người khác ta thấy nó chính là ta đang thanh lọc tâm hồn. Người làm thơ vì danh, tôi nghĩ ít thôi, làm thơ để thanh lọc tâm hồn mới là phổ biến. Đọc thơ, yêu thơ cũng để biết sống trầm tĩnh sâu sắc hơn. Thơ không phải là bài giáo huấn luân lý một cách thô thiển nhưng thơ mang vẻ đẹp thuần khiết của tình cảm và cả nhân cách con người do vậy không lý gì nó không góp phần chống lại sự băng hoại xuống cấp của đạo đức phẩm chất con người.
Chính vì thế, nên dù phải chống đỡ với sự chiếm lấn của bao nhiêu phương tiện nghe nhìn khác của thời kỹ trị và đang ở trong một tâm thế ít thuận lợi, thơ vẫn không chết như ai đó đã kêu lên. Thơ hay vẫn lặng lẽ đi vào lòng người như những mạch ngầm dịu mát làm lành lại bao vết thương đời, trong khổ đau mất mát lắm khi người ta vẫn còn phải vịn vào câu thơ để đứng dậy. Nhiều cuộc tranh luận sóng gió về thơ, đó là gì nếu không phải niềm yêu và lòng mong mỏi cho thơ hay lên. Ngày thơ Việt Nam đã trở thành một lễ hội văn hóa sang trọng có sự tham gia đông đảo của công chúng ở mọi miền đất nước.
Thơ còn cần cho cuộc sống biết bao. Với công chúng, người cầm bút đừng bao giờ làm cho thơ xa lạ hay thấp hèn đi. Muôn đời, thơ vẫn là nhịp cầu nối tâm hồn này đến tâm hồn khác. Sứ mệnh của thơ là thế, chẳng bao giờ đổi thay.
Thơ gắn với bản sắc dân tộc trong thời toàn cầu hóa
"Thơ muôn năm!" Đó câu kết trong bài "Thơ và toàn cầu hóa của nhà thơ", nhà phê bình Nga Nikolai Preiaxlov đọc tại hội thảo Thơ châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất ở Hạ Long (Quảng Ninh). Thơ, trong tiến trình phát triển của nhân loại đã, đang tồn tại và sẽ mãi tồn tại như một hoạt động văn hóa, tinh thần của con người. Bởi lẽ, thơ chính là cuộc sống ở chiều sâu, là một phần tâm hồn, tình cảm của con người được biểu cảm qua ngôn ngữ tinh tế và chọn lọc nhất.
Thơ gắn với dân tộc hay nói đúng hơn là một phần văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong bài viết của mình Nikolai Preiaxlov đã khẳng định: "Giữ gìn thơ ca dân tộc, đó không chỉ đơn giản là bảo toàn văn hóa khỏi sự vứt bỏ và sự xói mòn bởi những trào lưu văn học mốt mới. Giữ gìn thơ ca dân tộc, đó còn có nghĩa là bảo tồn tâm hồn của chính nhân dân, bởi vì chính trong thơ ca đã in dấu các truyền thống sinh hoạt và nghi lễ của nhân dân, những bài ca, những anh hùng ca, huyền thoại và đạo lý nhiều thế kỷ của cha ông". Ông lại nói như đinh đóng cột rằng: "Toàn cầu hóa, đó là con đường không đi tới đâu cả. Trong khi thơ là con đường tới vĩnh cửu"…Thật trùng khít với quan niệm về thơ của không ít người trong chúng ta; làm thơ trước hết là để bảo tồn văn hóa dân tộc; đổi mới thơ không phải là chối bỏ phủ định truyền thống. Tôi thấy, đổi mới trên nền truyền thống là hướng đi của khá nhiều nhà thơ hiện nay ở Việt Nam.
Cũng hướng về dân tộc và tổ quốc mình, nhà thơ Agus R. Sarjono (Indonesia) tâm sự: "Trái tim của những nền văn hóa được gìn giữ và diễn đạt thông qua các tác phẩm văn học. Ở khía cạnh này, sự gặp gỡ của quan hệ nội tại dựa trên những tác phẩm văn học sẽ cho chúng ta cơ hội lớn để đối thoại về văn hóa và văn minh một cách tôn trọng và hòa bình". Với thi ca, ông cảm nhận: "Thơ nhìn vào thế giới từ những đặc điểm riêng, và sự khác biệt của nó, vì thế thơ có sức mạnh bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, chạm vào trái tim của con người trên khắp thế giới. Trái tim ấy sẵn sàng hợp tác với những dân tộc của một quốc gia, một nền văn hóa khác, gieo trồng hòa bình trên mảnh đất màu mỡ của tri thức".
Rõ ràng, thơ vẫn chưa mất đi giá trị của nó trong việc bảo vệ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời cũng là nhịp cầu nối các nền văn hóa lại với nhau trong tình yêu và khát vọng hòa bình cho nhân loại. Những bước tiến của tri thức, của khoa học kỹ thuật cần được “bảo hiểm” bởi lòng nhân ái và tình thương đồng loại mà như chúng ta đã biết thi ca luôn hướng về điều đó. Nhà thơ đến từ New Zealand, Sue wootton bộc bạch: "Đôi lúc tôi nghe có những lời nhận xét rằng thơ đang chết dần. Tôi luôn kinh ngạc, bởi rõ ràng tôi thấy điều ngược lại. Cứ mỗi người cho rằng thơ không còn thích hợp, hay quá khó, thì lại có nhiều người khác ghi nhớ một bài thơ trong đầu hay viết vội một bài thơ bỏ trong ví, nhiều người khác cố dành chút thời gian trong cuộc sống bận rộn, thường là trước bình minh hoặc sau nửa đêm để viết những dòng thơ". Và, nhà thơ này khẳng định: "Nghệ thuật thơ còn sống vì nó tạo nên những lỗ hổng vào trong (và tổng thể) cái im lặng vẫn ám ảnh chúng ta. Nó mời gọi chúng ta nấn ná trong im lặng, để sống trong nghịch lý và mơ hồ , và để chú ý. Trên tất cả, qua sức mạnh kết hợp của ẩn dụ và chơi chữ, nó đòi hỏi chúng ta cho phép sự đa dạng và phức tạp. Thơ dạy khoan dung. Nó nhắc nhở chúng ta phải sống bằng trái tim, tâm hồn và thân xác, chứ không chỉ sống bằng cái đầu. Nó nhắc chúng ta rằng ta là một phần của tự nhiên, và làm cho ta trở nên khiêm nhượng"…
Đến từ Nhật Bản, đất nước đã trải qua trận động đất và sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử vào ngày 11 tháng 3 năm 2011, nhà thơ và dịch giả Yuka Tsukagoshi tâm sự: "Tiếng nói trong thơ ca…đã khích lệ các nạn nhân và tôi nhận ra một cách sâu sắc rằng thơ ca, với ngôn ngữ sinh động, đã làm giàu cảm xúc và ý nghĩa của hiện tại, mang lại sức mạnh để kết nối ngay lập tức với trái tim những người khác".
Như vậy, thơ, từ của một người đã trở thành “năng lượng” của nhiều người trong sự sẻ chia, đồng cảm, động viên, an ủi. Những sự rắc rối, tắc tị, rối rắm trong cái gọi là thơ sẽ trở nên lúng túng, hổ thẹn lúc này.
Thơ, xưa - nay vẫn thế, chính là nhịp cầu nối từ trái tim người này đến trái tim người khác dù họ không cùng ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử. Như thế, thơ - dù giản dị và không huyền bí như ai muốn thần thánh hóa nó, vẫn mang những giá trị đích thực trong cuộc sống như nữ nhà thơ Nhật Bản này phát biểu: "Tôi đã chứng kiến những khoảng khắc thơ ca đi qua biên giới hữu hình và vô hình giữa những dân tộc, những nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Cho dù khoảnh khắc đó chỉ là một cái chớp mắt của thời gian thì đó cũng là một bước tiến lớn tới việc tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy hòa bình chung"…
Và như thế, thơ vẫn nhịp bước cùng nhân loại trong hành trình vời vợi tới tương lai…
Cảnh quê tôi
![]() |
| Lèn Hai Vai và Sông Bùng ở Diễn Châu Nhệ An |
Một dòng sông vẫn ôm hoài tuổi thơ
Đàn cò trắng đậu kín bờ
Mây còn mờ tỏ bơ vơ mắt người
Thuyền con buông lưới dong chơi
Cá tôm có biết cho đời buồn vui?
Triền đê một thưở gió vùi
Nóng hè, đông rét, nắng thui chột mầm!
Gió Lào táp lá tháng năm
Vườn cây tháng chín sủi tăm mưa nguồn.
Hai Vai nặng nợ nước non
Trời trong biển biếc mãi còn quê tôi
Đan cài bao nỗi buồn vui
Lúa xanh chờ đợi quê tui một chiều...
Gặp bạn thơ
Nguyễn Hữu Quý - Đại tá, Nhà thơ quân đội đến làm việc tại tòa soạn Tạp chí Thơ ( Hội Nhà Văn VN ). Tôi cũng có việc đến đấy. Vậy là tình cờ chúng tôi gặp nhau. Chưa gặp lần nào nhưng đã là bạn bè nhà thơ trên mạng nên không ngỡ ngàng xa lạ. Về nhà tôi ghi lại mấy câu thơ nói về cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó.
| Nguyễn Hữu Quý đọc thơ tại Văn Miếu ngày thơ VN. |
Tại tòa Tạp chí Thơ
Với vài ba câu chuyện
Rồi tặng nhau tập thơ.
Bạn hỏi tôi có khỏe?
- Không đến nỗi vật vờ
Nhớ trang thơ bạn nói *
Có nhiều bài như mơ.
Trang thơ tôi đã trích
Mấy bài thơ ngọt ngào
Của bạn ai cũng thích
Và đôi dòng đổi trao.
Lần đầu nên lỡ hẹn
Bác xe ôm dưới đường
Bạn bắt tay tạm biệt
Để lòng tôi vấn vương...
* Trang thơ Nguyễn Quang Huệ
Đừng chờ...
( Chuyện công chức thời nay )
Một phòng với một lọ hoa
Dăm ba quyển vở mở ra mở vào
Đọc dăm bài báo giải lao
Chiều về xế hộp căn sao đúng giờ?...
Đưa người đến tận "suối mơ"
Gọi về cho vợ đừng chờ nghe chưa !
Vài đối tác đến đón đưa
Dăm ba câu chuyện là vừa nửa đêm
Đừng chờ anh nhé nghe em!?...







