Thơ Minh Hiền và lời bình của Nghiêm Thản

Trân trọng giới thiệu cùng các bạn: Nhà thơ Minh Hiền và nhà thơ Nghiêm Thản cùng là hội viên của Diễn Đàn Văn hóa Nghệ thuật Đường sắt và Xây Dựng VN. Những sáng tác của 2 người đã nằm lòng bao bạn đọc. Tôi xin phép đưa lên những sáng tác mới của nhà thơ Minh Hiền và Nghiêm Thản về bài viết của hai người lên trang cá nhân để bạn bè tôi có dịp làm quen với hai bạn nhé.

TA HÃY XEM NỖI LO LẮNG TRĂN TRỞ CỦA
NỮ SĨ MINH HIỀN QUA BÀI THƠ “LỆCH”
LỆCH
Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa
Sợ mưa bong bóng cứ đùa
Sợ hồn giông bão cứ ùa vào tôi
Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng.
Minh Hiền
Lời bình: Nghiêm Thản
Trong dân gian mọi người thường nói “Thế gian được vợ hỏng chồng”. Đó là sự triết lý của ông cha ta từ bao đời nay, tất cả mọi việc trên đời, ít có sự hoàn hảo, mà hoàn hảo đến tuyệt đối lại càng khó. Chỉ sáu câu lục bát nhà thơ Minh Hiền đã khắc họa nên điều đó. Cũng giống như câu ca dao:“Bây giờ chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch so sao cho bằng”. Đó chính là cái lệch nhau trong cuộc sống. Cũng chính vì thế nên tác giả sợ nhiều điều:
“Sợ rằng đêm vẫn khoác đen
Sợ ngày bỏng rát, để duyên cạn mùa”
Nhà thơ sợ “đêm vẫn khoác đen” hay sợ cái bóng tối cứ bao trùm mãi cuộc đời. Những đau thương, mất mát khổ đau, những dằn vặt, cô đơn... Cứ đeo đẳng theo suốt cuộc đời. Ở đây ta thấy tác giả dùng phép tu từ thật độc đáo, từ “đêm” có nghĩa là tối, mà đã tối thì phải “đen”. Từ “đen” đồng nghĩa với tối, mà đã tối tức là “đêm”. Đọc câu thơ ta thấy cái thi vị của thơ, ta thấy giá trị của ngôn ngữ trong thơ, ta thấy yêu thơ hơn. Câu thơ nó hay ở chỗ “đêm vẫn khoác đen”. Đã đêm rồi, đã tối tăm rồi, đã đen rồi còn khoác thêm đen. Thử hỏi cuộc đời đen tối, khổ hạnh đến bao giờ mới nhìn ra ánh sáng. Từ “khoác” ở đây thật thú vị, “khoác” gần đồng nghĩa với trùm, cuộc đời đã tăm tối còn trùm thêm đen bạc thì khổ sở biết chừng nào. Đấy là Minh Hiền sợ cái bóng đêm dài dằng dặc. Còn ngày thì sao, ta hãy xem sự lo lắng của chị:“Sợ ngày nắng rát, để duyên cạn mùa”. Cái sợ “Ngày nắng rát” của chị cũng như Tố Hữu đã viết:
“Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
(Khi con tu hú).
Tiếng chim tu hú kêu hay tiếng than vãn của con người. Đêm thì sợ kéo dài lê thê, ngày thì sợ nắng chói trang bỏng rát như quất vào da thịt. Hoàn cảnh thật trớ trêu, nó ngột ngạt u uất,“để duyên cạn mùa”. Từ “duyên” đã lý giải cho câu thơ. Không phải cuộc sống éo le vất vả, mà là một cuộc tình trái ngang, chật chội. “Duyên cạn mùa” hay tình yêu đã dần dần héo hon thui chột. Bát nước đầy lỡ đổ vớt lại không? Chưa hết tác giả vẫn còn:
“Sợ mưa bong bóng cứ đùa
Sợ hồn giông bão cứ ùa vào tôi”.
Nói đến hình ảnh “mưa bong bóng” người ta thường liên tưởng đến sự đổ vỡ chia ly, cách trở:
“Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?”
(Ca dao).
Tình yêu mong manh, mơ hồ như những quả bong bóng trôi nổi dưới mặt đất giữa trời mưa, phập phồng to nhỏ rồi lại tan vỡ đi, cứ thế, cứ thế... Như giỡn đùa với số phận, nó cũng sẽ tan như bong bóng xà phòng. Và chẳng bao giờ phồng lên được, thế là hết. Điệp từ “sợ” được lập lại tới bốn lần, tác giả đã khái quát được nỗi lo lắng trăn trở trước cuộc đời. Lần cuối cùng tác giả “sợ hồn giông bão”, hay sợ sự vùi dập, sợ sự tàn phá, sợ cái gì sắp đổ vỡ, hoang tàn, cô đơn, hiu hắt. Bốn câu lục bát liên tục đối nhau: “Đêm” đối với “ngày”, “nắng” đối với “mưa”, “mưa” đối với “giông, gió” càng làm tăng sự lo lắng, dằn vặt, như những đợt sóng cứ nối tiếp nhau lớp lớp chồm lên nhấn chìm đi cái gọi là hạnh phúc. Đây cũng chính là thủ pháp độc đáo sử dụng cách tiểu đối trong thơ của Minh Hiền. Những cái “sợ” của tác giả, đã mô phỏng, chính là từ những cái “lệch” trong cuộc sống:
“Lệch mùa trăng sẻ làm đôi
Lệch anh em thả thơ trôi cho bằng”.
Một sự so sánh thật thú vị mà lãng mạn, cái “lệch” của tình yêu đôi lứa lại ví như “lệch mùa trăng”. Đành rằng ai cũng biết trăng thì khi tròn khi khuyết, dù có lệch mùa vẫn thế thôi. Nhưng hình ảnh vầng trăng sẻ nửa thì thật phũ phàng ngang trái. Ta vẫn biết mùa trăng là mùa thu, trời trong xanh leo lẻo, nên ánh trăng lại càng sáng như cụ Nguyễn Khuyến đã vịnh:
“ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
(Thu vịnh)
Mùa trăng đẹp là vậy. Mùa trăng cũng là mùa cưới, mùa xây tổ ấm của những đôi uyên ương. “Hoa cúc vàng bắt đầu mùa cưới đó / Nắng hanh hanh cho má em ửng đỏ / Gió heo về mang hương vị tình yêu” (Chuyện chúng Mình của N.T), mà lệch mùa thì thật là buồn, nó tạo nên sự huyền ảo, ảm đạm, mơ hồ, nhạt nhẽo. cái “lệch mùa” ấy Hàn Mặc Tử cũng đã viết:
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ”
(Huyền ảo)
Trăng trong thơ của Minh Hiền đã “lệch mùa” lại bị sẻ làm đôi thì buồn quá. Có phải chăng đây là sự đổ vỡ của những cuộc tình ngang trái. Vậy nên chị sợ “ đêm vẫn khoác đen” là đúng thôi . Khi đã lệch, ai cũng muốn kê cho bằng. Sự tha thứ, lòng vị tha, tính nhân văn trong mỗi con người lại là điều cần thiết. Nhưng tác giả lại gửi hồn mình vào thơ, chị chắp cánh cho thơ bay trong gió, chị “ thả thơ trôi cho bằng” .Câu kết thật thú vị, chị viết rất ảo mà lại đúng. Bởi thơ đâu phải một vật gì mà đem kê cho khỏi lệch, Nhưng thơ lại làm được điều đó, và hơn thế nữa. Tính hiện thực trong thơ của Minh Hiền đã được lý giải, bởi không ít trong thực tế đã minh chứng. Những sân chơi đã ít nhiều kéo lại sự thăng bằng trong cuộc sống.
Với bốn mươi hai từ Minh Hiền ghép thành sáu câu lục bát, như đã giãi bày tình cảm, chia sẻ với độc giả bằng cách nén câu, nén chữ, ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích. Giàu hình ảnh, trìu tượng mà cụ thể, ảo mà thật, dễ hiểu . Những thủ pháp tu từ, tiểu đối, so sánh, cách dùng điệp từ biểu cảm. Chị đã như dựng lại những màn tình cảm, của những cuộc tình có thật trong đời thường, như lời cảnh báo, răn đe. Có thể nói rằng: Sáu câu lục bát của chị, là sáu câu thơ tài hoa. Bởi nếu ta chỉ đọc riêng từng câu, bất kì ở dòng nào, một mình nó cũng đã tỏa sáng, đủ nghĩa, và chuyển tải được đầy đủ nội dung của câu thơ, như những lời triết lý (bốn cái “sợ” hai cái “lệch”). Tôi được biết gần đây Minh Hiền viết rất xung sức và chắc tay. Chúc chị khỏe mạnh, giàu cảm súc để có những tác phẩm hay hơn.
Hà Nội 16 - 10 – 2014
Nghiêm Thản

Bài của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo

Xin phép anh, tôi đưa cả bài đăng của anh vào trang cá nhân để bạn bè tôi cùng đọc. Đây cũng là kỷ niệm của tôi đối với anh. Cũng như những tấm ảnh mà anh cùng tôi chụp ở Đài Tiếng Nói VN và những dòng nhận xét về thơ thiếu nhi của tôi mà anh đã viết, giấy giới thiệu tôi vào HNV VN từ năm 2013 cùng với nhà thơ Đỗ Hàn. Những kỷ niệm ấy giữa tôi và các anh làm sao quên được.
Chúc anh qua khỏi mọi khắc nghiệt của bệnh tật và tiếp tục sáng tạo nghệ thuật anh nhé.
Cám ơn Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo.
Hà Nội ngày 4 tháng 11 năm 2018.

 CẢM TẠ LÀNG QUÊ BẰNG KHÚC HÁT SÔNG QUÊ - NGUYỄN TRỌNG TẠO

Trường hợp tôi viết bài hát “Khúc hát sông quê” cũng là một bất ngờ.
Cuối tháng 8 năm 2002 hội Nhạc sĩ VN tổ chức trại sáng tác hợp xướng ở Vũng Tàu, tôi tham gia trại và dồn thời gian viết hợp xướng “Hạt bụi”. Hạt bụi là một thứ nhỏ nhoi, không có gì đáng để ý. Nhưng người ta thường nói, con người cũng chỉ là hạt bụi, sinh ra từ cát bụi rồi trở về với cát bụi. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai tôi về làm cát bụi” – (Trịnh Công Sơn). Tôi suy nghĩ rất nhiều về hình tượng con người bé nhỏ với cuộc sống ngắn ngủi trong thiên nhiên rộng lớn vĩnh hằng, sẽ được diễn tả bằng hình thức hợp xướng. Tôi muốn có cả giàn hợp xướng trăm người, ngàn người để hát về “hạt bụi” nhỏ nhoi…
Đang vật lộn với “hạt bụi” thì ông bạn thơ Lê Huy Mậu (quê xứ Nghệ sống ở Vũng Tàu) đến rủ đi nhậu. Mậu đã kéo tôi ra khỏi dòng mạch cảm xúc đang dồn nén, khá căng thẳng. Thế là đi. Nhậu tưng bừng. Nhậu mút mùa. Nhậu khuya lắm mới về. Trước khi ra về, Lê Huy Mậu đưa tôi mấy bài thơ nhờ xem và nhờ đưa in báo Văn Nghệ cho anh. Chả là lúc đó Mậu đang viết đơn xin vào Hội Nhà Văn VN. In thêm một chùm thơ trên báo Văn Nghệ của hội sẽ tăng thêm sức nặng cho việc vào hội của anh. Tôi hứa sẽ đọc và chùm thơ hay thì sẽ đưa in cho anh.
Nhậu xong cũng đã khuya, Mậu chở tôi về phòng rồi chia tay, vì cũng đã say nhừ. Tôi đóng cửa ngủ vùi. Sáng dậy chạy ra biển tắm cho “giã rượu”. Tắm nửa giờ mà khi lên bờ vẫn còn chếnh choáng. Về phòng, tôi thấy trên bàn những bài thơ của Mậu. Chợt nhớ là phải đọc xem sao. Tôi ngồi vào bàn đọc, và khi đọc đến bài thơ dài “Khúc hát sông quê” thì lặng người xúc động. Đây không phải là một bài thơ độc lập, mà là một chương trong trường ca chưa in của Mậu. Rất lạ là chương trường ca này làm tôi cảm động, nó làm tôi thấy có một điều gì đó thật xa xăm, sâu thẳm cuốn hút tôi. Thì ra quê Mậu cũng giống quê tôi. Cũng con sông đôi bờ phù sa. Cũng những kiếp người lam lũ. Cũng lòng yêu thương và nhân hậu. Nhưng Mậu đã đã bắt được cái hồn quê nguyên ủy trong con người quê của Mậu. Mộc mạc, chân tình, nhưng độc đáo và day dứt đến không ngờ:
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
Những câu thơ khiến tôi ứa nước mắt.
Tôi đọc lại bài thơ và chính những câu thơ đầu tiên đã ngân lên âm nhạc. “Quá nửa đời phiêu dạt/ ta lại về úp mặt vào sông quê”, (khi đó tôi thay chữ ta bằng chữ con để xác định sông cũng là Mẹ). Rồi tôi đọc lần thứ ba, chọn lọc và viết lại một số câu thơ của anh cho hợp với sự phát triển của âm nhạc. Lần này thì toàn bộ bài hát đã ngân lên trong tôi. Tôi lấy giấy nhạc ra, và chỉ cần chép lại bản nhạc đã lưu vào bộ nhớ trong đầu tôi. Có những câu nhạc đã vang lên, nhưng lời thơ lại không hợp với các nốt nhạc. Tôi cứ để trống phần lời, vì với tôi, khi viết nhạc, tôi rất chú trọng đến khúc thức bản nhạc, như âm nhạc là một tác phẩm độc lập, không phụ thuộc vào lời thơ. Khi phổ nhạc cho thơ, tôi không thích âm nhạc phải “chạy theo” thơ, đánh mất tính độc lập của nó để rồi cuối cùng chỉ thành một tác phẩm “hát thơ”. Tôi muốn nó là một nhạc phẩm hoàn chỉnh, chỉ dựa trên cảm xúc của thơ, dựa vào lời thơ để làm nên một sáng tạo mới trong một loại hình khác. Khi viết xong phần nhạc, tôi viết lời cho những câu nhạc còn để trống. Nhiều câu thơ không thể bê nguyên xi vào bản nhạc được, ví dụ:
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
tôi phải viết lại cho hợp với âm nhạc:
Ơi con sông quê, con sông quê
Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ
Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng
Hoặc trong thơ Mậu viết:
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
Tôi rất thích câu “lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm” nhưng để giữ được câu đó, tôi phải dẫn dắt bằng những hình ảnh quen thuộc ở chốn sông quê “con cá dưới sông, cây trồng trên bãi” như một sự hiển nhiên. Nhờ cái sự hiển nhiên đó mà nó làm “đòn bẩy” cho câu tiếp theo “lúa gặt rồi – còn để lại rơm thơm” mang được ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc bất ngờ.
Nói chung, ca từ nhiều khi mang tính ước lệ mà vẫn tạo được ấn tượng mạnh vì nó đã có âm nhạc mang vác, chuyển tải, chắp cánh.
Và cuối cùng là câu kết, gói lại, cũng là mở ra hình tượng con sông quê, chính là hình tượng người mẹ, hình tượng quê hương mãi mãi trào dâng trong tâm trí mỗi người: “Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng”. Câu thơ này không có trong bài thơ. Khi viết xong bài hát, tôi tặng Lê Huy Mậu câu này để kết bài thơ, và Mậu rất vui.
Bài hát viết xong khá nhanh. Có lẽ đây là bài hát tôi viết nhanh nhất trong đời viết nhạc của mình. Lúc ấy mới gần 8 giờ sáng. Trong bản thảo đầu tiên của bài hát này được ghi “Vũng Tàu, ngày 2.9.2002”.
Tôi vui mừng gọi điện thông báo cho Lê Huy Mậu và bảo anh đến nghe rồi cùng đi ăn sáng. Mậu phóng xe máy đến, ngồi trên chiếc giường trải drap trắng phẳng lì. Tôi pha ấm trà nóng rồi hát cho Mậu nghe. Mậu nghe chăm chú, đến câu kết thúc thì bất ngờ anh nằm ngã ngửa trên giường, hai tay giang ra như một cây thánh giá. Tôi nhìn mặt anh như sưng vênh lên với tình cảm khó tả. Tôi hỏi: “Sao ông lại nằm đuỗn ra thế? Phổ vậy được không?”. Chợt anh ngồi vùng dậy, và nói một câu khá bất ngờ với tôi: “Anh làm tôi nổi tiếng đến nơi rồi! Bài hát này tôi tin là mọi người sẽ hát…”.
Chúng tôi đi ăn sáng cho đến chiều tối thì nhận được điện của nhóm ca sĩ Hà Nội đang hát ở Vũng Tàu. Cuộc gặp gỡ đêm ấy bên bờ biển, NSND Thu Hiền đã cầm bản nhạc hát cho mọi người nghe và chị nói vui “Anh cho Thu Hiền độc quyền bài này nhé”. Sau đó Thu Hiền thu thanh ở Sài Gòn và lấy tên Allbum là “Khúc hát sông quê”.
Khi trở lại Hà Nội, tôi đưa bài này cho VTV và chọn giọng hát Anh Thơ. Tôi có nghe Anh Thơ hát vài lần và nghĩ, giọng Anh Thơ sẽ hợp với bài hát này, sự trong sáng và chuẩn mực sẽ làm cho bài hát đẹp hơn. Tôi đem bản nhạc đến nhà cho Anh Thơ. Anh Thơ đang nấu bếp, phục vụ ông bố chồng bị ốm, nhưng cũng dành chút thời gian xem bản nhạc và nghe tôi hát qua vài lần. Anh Thơ có vẻ thích thú, vừa nấu bếp vừa tập, và nhận lời thu tiếng, thu hình bài hát này. Khi thu thanh, Anh Thơ đã gần như thuộc bài hát. Chỉ thu vài lần là OK. Các kỹ thuật viên của đài vì quá thích nên đã “cóp” đĩa về nhà nghe, dù không được phép. Vài tuần sau đó, bài hát được giới thiệu lần đầu tiên trong chương trình Tác phẩm mới của VTV. Tôi không ngờ nó lại được công chúng yêu chuộng đến thế. Hầu như từ đó, ngày nào bài hát này cũng được hát nơi này nơi khác, rồi nó trở thành một “hội chứng” mang tên Khúc hát sông quê.
Cuối năm đó, Lê Huy Mậu được kết nạp vào hội Nhà Văn với số phiếu tuyệt đối. Thỉnh thoảng anh gọi điện cho tôi kêu khổ vì "Fan" mời bia rượu suốt ngày, nhiều hôm mệt lử. Rồi đến đại hội văn nghệ tỉnh, anh em bàu Mậu làm Chủ tịch hội, vì anh sở hữu sự nổi tiếng nhất Bà Rịa - Vũng Tàu. Lại có người Việt ở hải ngoại mê bài hát này muốn mời cả "Nhạc và Lời" ra nước ngoài chơi...
Tôi đến châu Âu, châu Mỹ lần nào cũng được nghe Việt kiều hát “Khúc hát sông quê” với thật nhiều thiện cảm. Có người vì quá yêu bài hát này mà sẵn sàng đưa tác giả đi đây đi đó quên cả việc riêng, khiến tôi không thể nào quên được.
Đời một người sáng tác, hạnh phúc là tác phẩm của mình được công chúng đón nhận và yêu thích. Nhưng hạnh phúc nhất với tôi là nó được người làng tôi tâm đắc, chia sẻ và tự hào. Vâng, làng quê, nơi cất dấu và hiến dâng cho ta bao tài sản tinh thần vô giá… Xin mãi mãi cảm tạ làng quê!...
Hà Nội, 12.2010
*
Bài thơ:
KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
Lê Huy Mậu
Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...
Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể, mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...
Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi.
lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng, ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...
Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu, thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...
Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.
Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...
Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...
(Trích trường ca THỜI GIAN KHẮC KHOẢI của nhà thơ Lê Huy Mậu)

Chia tay

( Gửi  NT )

Biết là em trẻ, em xinh
Nhưng anh đâu giám quên mình tuổi cao
Cầm lòng trong nỗi khát khao
Lời em đã ngỏ mà nào... !! Em ơi !
Tương lai như buổi tối trời
Lao vào tình ái cho đời giở dang
Biết bao lá ngọc cành vàng
Thuyền tình rộng mở đón nàng sang sông...

Dù cho sấm chớp bão giông
Đời em hạnh phúc là lòng anh vui
Khuyên em hãy gắng mỉm cười
Trời xanh mây trắng trao lời thân thương...

Bài đăng Văn hóa Việt năm 2019

 ( Bài phát biểu của Chủ tịch Diễn Đàn VHNT Đường sắt và XD Việt Nam trong lễ ra mắt ấn phẩm TIẾNG CÒI TÀU ngày 15 tháng 10 - 2018 tại Hà Nội )


    Kính thưa  Ts Đào Đình Bình, Nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Giao thông Vận tải, Chủ Tịch danh dự của Diễn đàn Văn hóa Nghệ thuật Đường sắt và Xây dựng VN
Thưa nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, Phó Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội
Thưa ông Vũ Xuân Hoát Chủ Tịch quỹ bảo trợ VHNT Hà Nội.
Thưa các vị đại diện cho Tổng công ty Đường sắt và các thành viên của ngành.
Thưa các nhà thơ, nhà văn và các đại diện cho các câu lạc bộ thơ bạn là khách mời của Diễn Đàn, do thời gian có hạn tôi không thể nêu tên từng người. Mong được cảm thông và lượng thứ.
Thưa các vị khách quý và hội viên có mặt trong buổi lễ trọng thể này.
Trước hết, Tôi xin nói qua về sự hình thành của Diễn Đàn VHNT Đường sắt và XD VN.
Đây là ý tưởng của giám đốc Trung tâm VHNT Thăng Long văn hiến, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Đức Trọng, cộng với tâm huyết của một số nhà văn nhà thơ và Người yêu thơ đã tập hợp lại. Trên cơ sở đó giám đốc trung tâm VHNT Thăng Long Văn hiến đã ký quyết định thành lập Diễn Đàn và công nhận tạm thời BCH vào ngày 15 tháng 11 năm 2017.
Đến nay đã có gần 50 hội viên tham gia gồm các thành phần như: Các nhà văn, nhà thơ của HNV VN, HNV Hà Nội, Kiến trúc sư, kỹ sư, họa sĩ, Tiến sĩ y khoa, nhiếp ảnh gia, nhà báo, Phó giáo sư Tiến sĩ khoa học, thạc sĩ luật, nhà giáo,  sĩ quan công an, sĩ quan quân đội, bác sĩ, ca sĩ và người yêu thơ đã có quá trình học tập và sáng tác hàng chục năm trở lên.
Buổi sinh hoạt đầu tiên tại số nhà 19 ngách 82/23 phố Nguyễn Phúc Lai, quận Đống Đa Hà Nội.
Từ đó đến nay đã tròn 11 tháng. Sinh hoạt đã qua 3 địa điểm và hiện nay có mặt tại đây: một nơi lý tưởng mọi bề, là trung tâm quận Đống Đa, thuận tiện đi lại, hoạt động rộng rãi phù hợp với Diễn Đàn v/vv…

Sông ơi mới ở đầu nguồn
Muốn làm sóng lớn hãy còn chờ mưa…

   Qua 11 tháng chúng tôi đang đón và đang tạo ra những cơn mưa ấy. Những buổi sinh hoạt hàng tháng vào ngày 15 đã đem lại niềm vui và hứng khởi cho các hội viên và cộng đồng mạng trên Fb. Nhà thơ Trần Quang Quý, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã đôi lần về dự sinh hoạt với hội viên, trao đổi những kinh ngiệm quý giá về sáng tác văn thơ. Những bức tranh nghệ thuật của hội viên đã lên bìa sách và dự triển lãm quốc gia và đạt giải của Hội mỹ thuật VN. Những bài thơ hay đã được đăng trong tập san Văn Hóa Việt và ấn phẩm Tiếng Còi Tàu. Những tờ báo lớn như Văn Nghệ, Người Hà Nội, người cao tuổi và các tạp chí chuyên ngành đã đăng nhiều truyện ngắn, thơ của hội viên. Những bức ảnh đẹp phản ánh hoạt động của Diễn đàn sôi nổi và ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống thường nhật của mỗi người. Đặc biệt, những chuyến giã ngoại về Tiên Du Bắc Ninh, Quảng Thái Sầm Sơn đã là nguồn vui mà trong đời một người sáng tác khó phai mờ. Sắp tới với chương trình đã được lên kế hoạch, chúng tôi sẽ đi giã ngoại tại Sóc Sơn, giao lưu, du lịch tại Bắc Miền Trung và những nơi khác nữa…

Về quá trình xây dựng thành công của ấn phẩm Tiếng Còi Tàu: công lao hàng đầu phải nói đến Cố Vấn Diễn đàn nhà thơ, nhà báo Nguyễn Đức Trọng, được sự khích lệ của Chủ tịch danh dự: Ts Đào Đình Bình, chắp bút công phu của Phó Chủ Tịch thường trực BCH: nhà thơ, Tiến sĩ, nhà giáo ưu tú Bùi Minh Trí. Các ông là người khởi xướng đầu tiên, gửi bài đầu tiên. Suốt quá trình tổ chức đã lăn lộn, tập hợp các nhà văn, nhà thơ trong và ngoài Diễn đàn có tâm huyết với Đường sắt, định hướng về Đường sắt viết bài. Đặc biệt được sự ủng hộ của Tổng công ty Đường sắt VN và các thành viên, sự cộng tác tích cực của NXB Hội Nhà Văn, ấn phẩm Tiếng còi tàu đã ra đời với chất lượng tốt về nội dung, đẹp về hình thức.
Hôm nay nhân ngày sinh hoạt thường kỳ của Diễn đàn, chúng tôi tổ chức buổi ra mắt và giới thiệu ấn phẩm  Tiếng Còi Tàu tới quý vị và đông đảo bạn đọc.

Thành công mới chỉ ban đầu
Muốn tìm cá  lớn sông sâu phải dò

Buổi bình minh ban đầu đã tốt đẹp, Chắc chắn rằng với ban chấp hành được kiện toàn, với đội ngũ hội viên tâm huyết và trí tuệ, chúng tôi sẽ làm nên những thành công mới, những kết quả mới.
Kính chúc quý vị mạnh khỏe và trân trọng cảm ơn quý vị.

Hà Nội ngày 15 tháng 10 năm 2018
Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ                                                                                    




Chúc mừng năm mới

Kỷ Hợi năm nay hai mười chín
Khai xuân nắn nót chép đôi lời
Gửi chúc mọi người vào năm mới
Mai đào nở rộ sắc thêm tươi.

Én vui chao lượn vờn sóng lúa
Cải vàng hoa nở khắp Tây Đông
Tiếng trẻ vui cười vang lối xóm
Cây đu ngày tết lại lên đồng.

Trai gái vào xuân môi thắm nồng
Bến đò nhộn nhịp khách sang sông
Đám cưới ngày xuân người đưa rước
Tiễn bao bạn gái bước theo chồng.

Mùa xuân đã đến khắp mọi nhà
Mừng vui lễ họi sắp mở ra
Quê hương đón nhận bao điều mới

Gửi tới muôn nhà vạn sắc hoa…

Vàng rơi

Đầu Đông nóng lạnh đan xen
nửa cơn say, nửa khát thèm tình ai
con tim phủ bóng mây cài
cuối chiều thấm giọt mưa ngoài ướt my.

Nhớ từ buổi ấy em đi
vàng trong thanh khiết - diệu kỳ lung linh
nổi lên giữa buổi hội đình
tan tầm liệu có chút tình trao nhau.

Ngàn hoa khoe thắm sắc màu
cũng đành dừng lại chờ câu hẹn hò
em về nơi ấy anh lo
liệu trong tim - có chỗ cho một người?..

Hà Nội 15. 10. 2018


Bài đăng kỷ yếu lớp sáng tác và thẩm bình văn chương



Thăm chùa
(Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang
Ngày 30/ 9/ 2018 )

Cửa gỗ rêu phong
    thời gian mốc
Hoa trái trong sân
    nắng ngập ngừng
Quả bòng rám mật
   phơi sương gió
Lá rụng sân chùa
   đêm rưng rưng…

Khuất nẻo đường thi
   tìm đâu thấy
Mộc bản im lìm
   đứng tựa lưng
Bao lời Phật dạy
   nương thân gỗ
Mấy kiếp nhân sinh
   đã tỏ mừng…

Thăm cháu
Ngày vui con nhắn tin về
Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu
Xa gần mình ngại chi đâu
Biết răng là được, biết lâu là dừng.

Thương con, nhớ cháu vô chừng
Tui đi thăm nó khi ưng thì về
Tỉnh ngoài không nói mô tê
Quê tui như rứa ai chê mặc người.

Cháu tui đầy cữ hôm rồi
Bữa ni bà mới rảnh rơi lên tàu
Một toa đầy tiếng Diễn Châu
Không quen cũng biết bạn bầu đồng hương…

Gội đầu
Múc mây dội nước lên đầu
Mùi hương thoang thoảng hương dầu bay xa
Trời xanh một trẻ một già
Hai màu đen, trắng hong ra nắng vàng…

Sông Thương
Lờ đờ nước chảy Sông Thương
Gió Thu quảy gánh lên đường vào Đông
Bên bồi, bên lở đục trong
Vẫn như xưa cũ quay vòng bến quê
Nhớ nhau tìm chốn đi về
Sông Thương cất hộ câu thề từ lâu…


Bài hát về đường sắt

"Anh ơi đô thành ở đây em sống không quen
Ra ga lên tàu về quê em thấy vui hơn
Tàu đi tàu đến sân ga tàu đi tàu đến đến, đưa ta về nhà
Về quê mình thấy vui hơn về quê mình cưới nhau luôn chẳng bao giờ buồn
Em là dâu ngày cưới, còn anh là chú rể mới
Anh đưa em đi anh đưa em về làm dâu nhà anh
Sinh ra con tàu ngày đêm đưa khách đi xa
Sinh ra trong đời làm thân đón tiễn sân ga
Tàu đi tàu đến sân ga tàu đi tàu đến đưa ta về nhà."

Thăm chùa

( Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang )

Cửa gỗ rêu phong
   thời gian mốc
Hoa trái trong sân
   nắng ngập ngừng
Quả bòng rám mật
   phơi sương gió
Lá rụng sân chùa
   đêm rưng rưng

Khuất nẻo đường thi
   tìm đâu thấy
Mộc bản im lìm
   đứng tựa lưng
Bao lời Phật dạy
   nương thân gỗ
Mấy kiếp nhân sinh
   đã tỏ mừng...

Lời nhắn gửi

Anh làm gì có lỗi với em chưa?
nói cho biết để còn lo tạ tội
như con chim gần hết đêm hót gọi
thức cả rừng sau những tiếng vui reo.

Anh  làm gì để phật ý em yêu
hay anh đã cố tình ngộ nhận?
mà lâu nay anh tưởng rằng duyên phận
từ nơi em đã trao gửi phần nào?...

Nhưng cho dù không đến mức gửi trao
còn lo sợ những điều không đáng có
thì mong em mọi điều thương nhớ
cứ cho là chưa nghe thấy nghe em...

IM LẶNG...
.....
.....


Thơ gửi lớp sáng tác và thẩm bình văn chương

( Lớp sáng tác và thẩm bình văn chương do trường
Đại Học Văn Hóa + Hội Nhà Văn Hà Nội tổ chức )

Thăm cháu
Ngày vui con nhắn tin về
Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu
Xa gần mình ngại chi đâu
Biết răng là được, biết lâu là dừng.                                                      
                                                                                                             
Thương con nhớ cháu vô chừng
Tui đi thăm nó khi ưng thì về
Tỉnh ngoài không nói mô tê
Quê ta như rứa ai chê mặc người.

Cháu tui đầy cữ hôm rồi
Bữa ni bà mới rảnh rơi lên tàu
Một toa đầy tiếng Diễn Châu
Không quen cũng biết bạn bầu đồng hương…

Gội đầu
Múc mây dội nước lên đầu
Mùi thơm thoang thoảng hương dầu bay xa
Trời xanh một trẻ một già
Hai màu đen bạc hong ra nắng vàng…

Chợ quê
Chợ quê họp ở đầu làng
Bên dòng sông nhỏ, bên đàng liên thôn
Rổ rau, mẹt cá, mớ tôm
Đôi ba hàng thịt, dăm con lợn gà
Vài ba chục trứng bày ra
Trước là gặp bạn, sau là đổi trao…

Tền nhiều mặc những đâu đâu
Chợ quê cóp nhặt lá trầu quả cau
Cảnh quê nghèo túng có nhau
Không đi nhớ bạn nhớ bầu lại đi.

Chợ tan hàng chẳng còn gì
Tình thêm mấy đận - đợi kỳ họp sau…

Buổi sáng
Từ mờ sáng
Tiếng gà canh ba treo trên ngọn tre
Chuông nhà thờ lan theo làn gió
Từ đầu ga, cuối phố
Mẹ xuống giường
Tìm ánh lửa đầu đông.

Rổ rau thơm, cây giống chờ qua đêm giông
Ngái ngủ
Vẫn im lìm trong rổ
Chân mẹ gầy bơi trong bão tố
Gánh gồng niềm hy vọng vu vơ

Đi chợ sáng kịp phiên, các bạn đang chờ…

Thơ Cẩm Nga



EM ĐI LẤY CHỒNG, ANH CÓ BUỒN KHÔNG …?
Em đi lấy chồng, anh có buồn không…?
Áo cưới, khăn voan, người quen, khách lạ
Đon đả phụ dâu, tưng bừng mâm quả
Anh có buồn, có tiếc nhớ không anh…
Con gái có thì, một thuở xuân xanh
Vậy mà năm tháng qua, trầu cau chưa hỏi
Ba, bốn năm trôi con trăng cũng tội
Chú bướm vàng hết đậu nhánh mù u
Hết thu này rồi đến thu sau
Ôi chử duyên, tàn phai trong mắt
Anh bận thoi đưa, bận bon chen phố chật
Ngày em lấy chồng, anh có bận không anh…?
Hết đêm dài, hết những tàn canh
Từ nay thôi mắt chờ mắt đợi
Em sửa sang, mặc thêm áo mới
Hửng nắng hồng, em làm vợ người ta
Tóc cô dâu, mẹ chải rất mượt mà
Anh ở đâu? sao không là chú rể
Anh có vui không… ! Sao em buồn đến thế
Sóng gợn mi sầu, cắn chặt vành môi
Yêu rất nhiều, rồi cũng chia phôi
Anh đi đi, em không chờ đợi nữa
Cải đã xanh bao nhiêu mùa gột rữa
Sáng tinh sương, em phải bận theo chồng.
Cẩm Nga
******////******/********///**/**
Nguyễn Quang Huệ
Tôi làm bài thơ TIỄN NÀNG đã mấy chục năm trước. Nay đọc bài thơ của Cẩm Nga, thấy hoàn cảnh tương đồng như gặp lại bạn xưa, nên chép lại mà cảm thấy hai bài thơ ra đời cách nhau mấy chục năm, hợp nhau quá. Bây giờ bạn ấy đang sống cùng gia đình tại TP Hồ Chí Minh. Hạnh phúc viên mãn, con cháu đủ đầy.
 Tôi nối thơ Cẩm Nga bằng bài TIỄN NÀNG cho hợp với cảnh với tình. Mong bạn đọc thông cảm và lượng thứ vì thơ là chính, Với lại có ai cấm người cao tuổi làm thơ tình đâu? 
TIỄN NÀNG
Thế là nàng đã sang sông
Nàng đi lấy chồng tôi ở lại sau
Ngậm ngùi chẳng trách được nhau
Nỗi buồn dấu kín chôn sâu vào lòng.
Tình yêu như một đóa hồng
Nhưng còn gai nhọn mà không trọn lời
Còn lo những việc xa xôi
Sợ không lấp được đầy vơi cho nàng.
Thế rồi nàng bước sang ngang
Thời gian đâu mãi giở dang đợi chờ
Xin đừng trách cứ vu vơ
Tiễn nàng bằng mấy vần thơ của mình..

Diễn đàn và một chuyến đi

( Kỷ niệm chuyến đi giã ngoại tại Sầm Sơn từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 9 năm 2018 )

Hẹn nhau một chuyến đi đùa vui với sóng
bỗng mây trời cuồn cuộn đổ mưa tuôn
sạt lở đất, lũ dâng, nhà trôi vùi lấp
ao cá tràn bờ nước mắt trào dâng.

Bão Mang khút nép bầu trời, nấp vào lòng biển
chui vào đất lành dân việt từ hướng Cửa Ông
nhưng may mắn hắn lùi lên phía bắc
vì lòng người không mong muốn bão giông.

Dù chưa tan vẫn cất bước lên đường
hướng Sầm Sơn là nơi ta hò hẹn
Quảng Thái ơi một vùng trời thương mến
mang câu thơ làm hành lý đi cùng.

Nắm tay nhau cõi sóng giữa không trung
và nằm dài hôn lên bờ cát mịn
thăm chùa Diên Phúc A DI  ĐÀ thanh tịnh
bữa sáng, trưa, chiều ngon như giấc mơ.

Khách với chủ nhà đẹp như câu thơ
ra về mang theo bao lưu luyến
bịn rịn chia tay hẹn năm sau lại đến
nụ cười chen trong kẽ môi mềm...

Vua Mèo Vương Chính Đức

Toà dinh thự của Vua Mèo trên đồi con rùa được xây như thế nào?

Dân trí Toà dinh thự của thủ lĩnh người H'Mông - Vương Chính Đức toạ lạc trên một ngọn đồi hình lưng con rùa, xung quanh là những dãy núi bao bọc... Rất nhiều thợ giỏi và nhân công miệt mài xây dựng không kể ngày đêm trong vòng 5 năm liên tục và kinh phí hết khoảng 15.000 đồng bạc hoa xoè (tương đương 150 tỷ đồng hiện nay) mới hoàn thành.
 >> Cháu nội Vua Mèo kể về cuộc sống của người ông được Bác Hồ kết nghĩa anh em
 >> Việc cấp sổ đỏ đất dinh thự Vua Mèo cho Phòng Văn hóa thông tin có sai luật?
 >> Cháu nội Vua Mèo nói gì về thông tin bị tước quyền sử dụng đất tòa dinh thự?


Ông Vương Chính Đức (1865-1947), thủ lĩnh cộng đồng người HMông ở cao nguyên đá Đồng Văn trước cách mạng tháng 8/1945 (Ảnh: Gia đình ông Vương Duy Bảo cung cấp)
Ông Vương Chính Đức (1865-1947), thủ lĩnh cộng đồng người H'Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn trước cách mạng tháng 8/1945 (Ảnh: Gia đình ông Vương Duy Bảo cung cấp)
Khu dinh thự Vua Mèo (Vua H'Mông) nằm trên gò đất thuộc thung lũng Sà Phìn, cách trung tâm huyện lỵ Đồng Văn (Hà Giang) 15 km. Dinh thự và cả mảnh đất rộng lớn bao quanh thuộc sở hữu của Vương Chính Đức (1865-1947), thủ lĩnh cộng đồng người H'Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn trước cách mạng tháng 8/1945.
Ông Vương Chính Đức được đồng bào người H'Mông suy tôn là thủ lĩnh, chính thức cai quản 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn. Ông là bố của Vua Mèo Vương Chí Sình.
Chọn khu đất hình lưng con rùa để xây dựng dinh thự
Theo tài liệu mà cháu nội của Vua Mèo Vương Chí Sình, ông Vương Duy Bảo cung cấp, để xây dựng được toà dinh thự, năm 1890, ông Vương Chính Đức đã cho mời thầy địa lý tên là Trương Chiếu ở Xã Phố, huyện Đồng Văn tìm địa điểm làm nhà.
Khu dinh thự của Vua Mèo được xây dựng giữa cánh đồng Sà Phìn trên một quả đồi hình lưng con rùa (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Khu dinh thự của Vua Mèo được xây dựng giữa cánh đồng Sà Phìn trên một quả đồi hình lưng con rùa (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Sau một thời gian đi khắp mảnh đất Đồng Văn để tìm địa điểm, cuối cùng ông Trương Chiếu đã chọn mảnh đất Sà Phìn với những lời giải thích: Giữa cánh đồng Sà Phìn nổi lên một quả đồi hình con rùa, xung quanh là những núi cao bao bọc. Sau lưng quả đất hình con rùa là dãy núi hình ghế tựa, có đất để co duỗi chân; Bên phải, bên trái đều có núi cao; Đằng trước có hai núi tượng trưng cho văn, võ đứng hầu, sau hai quả núi là một dãy núi chắn ngang như rồng uốn lượn. Từ những lời giải thích đó thầy địa lý đã kết luận, "đây là mảnh đất ở của bậc Anh kiệt".
Sau khi thầy địa lý đã chọn xong, ông Vương Chính Đức giao cho Cụ Hoàng (là người kinh, gốc Nam Định) là mưu sĩ và ông Cử Chúng Lù (là người H'Mông ở Làn Trá Tủng huyện Đồng Văn) là người phụ trách quân đội người H'Mông, nghiên cứu, phác hoạ một toà nhà trên mảnh đất này.
Sau khi đã có bản phác hoạ, ông Vương Chính Đức mời Tống Bách Giao là người Hán ở huyện Tây Thọ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc thầu thiết bị và thi công. Ông này lấy người Hồi ở huyện Tuyên Uy, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc sang để thiết kế và thi công.
Tòa dinh thự khởi công năm 1898, đến 1903 thì khánh thành. Tổng kinh phí hết khoảng 15.000 đồng bạc hoa xòe (tương đương khoảng 150 tỷ đồng ngày nay). Khu dinh thự được xây kiểu pháo đài phòng thủ. Xung quanh được bao bọc bởi lớp tường đá dày 60-70 cm, cao 2 m, có nhiều lỗ châu mai. Phía sau nhà có 2 lô cốt kiên cố.
Nhà thiết kế theo kiểu của người Hán, lò sưởi kiểu Pháp...
Toà dinh thự được chia làm 3 phần
Sau khi toà dinh thự được xây xong (với tổng diện tích lên tới hơn 3.000m2), ông Vương Chính Đức ở trong dinh thự này được 44 năm.
Khu dinh thự của thủ lĩnh cộng đồng người H'Mông là kiểu nhà pháo đài phòng thủ và được chia làm 3 phần, đó là tiền dinh, trung dinh và hậu dinh.
Tại phần tiền dinh: trước cửa có hai câu đối, bên trái là "Gia tích thiện nhân hiền xuất nhập", bên phải là "Môn trong người hào kiệt vãng lai" (riêng câu bên phải này, năm 1938 Pháp xoá bỏ chế độ người H'Mông tự quản và yêu cầu ông Vương Chính Đức sửa lại thành "Môn phong lưu quý khách vãng lai" nhằm không cho ông Vương Chính Đức chiêu hiền nạp sĩ.
Vào bên trong Giếng trời của tiền dinh sẽ thấy tấm biển sơn son thếp vàng với dòng chữ Hán "Biên chính khả phong", tạm dịch là "Chính quyền biên cương vững mạnh", được Nhà Nguyễn mang từ Huế ra gắn cho dinh thự của ông Vương Chính Đức vào năm Khải Định thứ 13 cùng Thẻ bài Ngà voi và mũ áo Tấn phong cho ông Vương Chính Đức làm quan của triều đình.
Bên phải của toà dinh thự tầng một là nơi ăn, ở của các thủ lĩnh, tầng hai là văn phòng của thủ lĩnh Vương Chính Đức và chỗ ăn, ở của Cụ Hoàng - mưu sĩ người kinh ở Nam Định.
Bên trái tầng một dinh thự là phòng khách của Tổng quản (người giúp việc của ông Vương Chính Đức), còn tầng hai là nơi ăn ở của các vệ sĩ.
Tại nhà chính tiền dinh, tầng một có 3 gian, là nơi sinh sống và sinh hoạt của vợ chồng cùng con cái. Tầng hai của tiền dinh là nơi tiếp khách của ông Vương Chính Đức, do người con trai út Vương Chí Sình (sau này được phong là Vua Mèo) đảm nhiệm.
Một số đồ đạc vẫn được lưu giữ cẩn thận trong dinh thự của Vua Mèo (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Một số đồ đạc vẫn được lưu giữ cẩn thận trong dinh thự của Vua Mèo (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Tại phần trung dinh: Bên phải tầng một và hai là nơi nghỉ của họ hàng khi đến chơi (tầng một là của đàn bà, tầng hai là của đàn ông), bên trái tầng một là bếp tiểu táo phục vụ khách họ hàng do Vương Chí Chư (con trai thứ 3 của Vương Chính Đức) đảm nhiệm. Tầng hai là nơi để lương thực, thực phẩm.
Tại nhà chính của trung dinh, tầng dưới bên phải là phòng ngủ của Vương Chí Chư, gian giữa là nơi để bàn thờ tổ tiên kiêm phòng ăn của ông Vương Chính Đức tiếp người thân trong họ hàng. Gian trái là phòng ngủ của vợ con Vương Chí Chư. Còn tầng trên là nơi Vương Chí Chư tiếp bà con trong họ hàng đến chơi, ăn nghỉ tại dinh.
Tại phần hậu dinh: Đây là nơi ăn, ở sinh hoạt của thủ lĩnh Vương Chính Đức, bên phải tầng một là phòng ngủ của vợ và các con chưa lập gia đình. Tầng hai là phòng ngủ của Vương Chính Đức. Bên trái tầng một là khu bếp nấu ăn cho Vương Chính Đức, bên trong là nhà khách của vợ con Vương Chính Đức.
Tầng hai là nơi cất giữ đồ dùng riêng của Vương Chính Đức, dãy nhà ngang trong cùng là nơi Vương Chính Đức tiếp khách, đồng thời là phòng ăn của riêng ông.
Ngoài ra khu dinh thự còn có 2 nhà cánh bên phải: là nhà khách để bà con đến chơi nghỉ lại qua đêm, còn nhà cánh bên trái là gác chứa lương thực, thực phẩm. Dưới nhà là bếp nấu ăn phục vụ mọi người trong dinh.
Ông Vương Chính Đức cùng các con cháu của mình (Ảnh: Gia đình ông Vương Duy Bảo cung cấp).
Ông Vương Chính Đức cùng các con cháu của mình (Ảnh: Gia đình ông Vương Duy Bảo cung cấp).
Trước khi mất, thủ lĩnh người H'Mông Vương Chính Đức đã chia toà dinh thự của ông cho những người thừa kế như sau: Tiền dinh sẽ cho Vương Quỳnh Sơn, cháu đích tôn của ông Vương Chính Đức thừa kế. Trung Dinh sẽ cho Vương Chí Chư (con trai thứ 3 của Vương Chính Đức) thừa kế. Hậu dinh sẽ cho Vương Chí Sình (con trai thứ 4 của ông Vương Chính Đức) thừa kế. Việc thừa kế này có sự chứng giám của các đầu dòng, đầu họ người H'Mông.
Trần Thanh

Bài viết của Cẩm Nga

Ôi Hà Giang!...
Vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình nổi danh cả thế giới chứ chẳng riêng gì Việt Nam, từng cai quản cả vùng cao nguyên đá Đồng Văn, gồm 4 huyện bây giờ (Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc), khiến Trung Quốc phải nể, Pháp phải sợ, nhà Nguyễn phải tôn trọng.
Bác Hồ là siêu sao về thuyết phục, đã cưỡi ngựa lên tận Đồng Văn, kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình, và không cần tốn viên đạn nào, thu phục được một “quốc gia”. Không những thế, vận động gia tộc này ủng hộ cách mạng cả chục tấn vàng, bạc. Tổ quốc được yên bờ cõi cũng một phần quan trọng nhờ nhà vương.
Sau khi về với cách mạng, “quốc gia” Đồng Văn biến mất. Cụ Sình thành đại biểu Quốc Hội. Con cụ Sình là cụ Vương Quỳnh Sơn làm lãnh đạo ở UB dân tộc, rồi cháu cụ là Vương Duy Bảo làm sếp ở một cục của Bộ Văn hóa.
Cái dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn tất nhiên là thuộc sở hữu của đàn con cháu Vương Chính Đức. Các vua chết đi, thì con cháu vẫn ở đó, quần tụ. Những người con đi xa, về Hà Nội làm cán bộ, ngày lễ, tết, giỗ vẫn về đó ở bởi đó là nhà của họ.
Gia đình không ai có nhu cầu, nhưng bỗng dưng Bộ VH công nhận nhà Vương là di tích cấp quốc gia.
Có được cái giấy chứng nhận đó, lãnh đạo Hà Giang tham lam và ngu dốt, đã cố tình hiểu sai luật, nghiễm nhiên coi nhà Vương thuộc sở hữu nhà nước, tống cổ hết 6 hộ gia đình với mấy chục con người ra khỏi nhà, khiến họ vật vờ vất vưởng đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, rồi bán vé thu tiền du khách tiền tỉ mỗi năm (giờ cần thanh tra cái này xem có lợi ích nhóm không).
“Quốc hữu hóa” được cái nhà, nhưng để chắc ăn, nên UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở TNMT “lén lút” làm cái sổ đỏ mảnh đất mang tên Phòng Văn hóa thông tin huyện Đồng Văn. Thế là, cả đất và tài sản trên đất nghiễm nhiên thuộc cơ quan nhà nước.
Vậy là, trong con mắt đồng bào Mông ở Đồng Văn, đặc biệt là con cháu vua Mèo, thì chính quyền địa phương đã giở thủ đoạn để cướp nốt tài sản còn lại của họ. Vàng bạc, tài sản thì vua Mèo hiến cho cách mạng, còn cái nhà để cho con cháu có chỗ ở, tụ họp, không muốn hiến, thì bị cướp!
Bao nhiêu công sức của Bác Hồ, bị mấy tay quan tham này đổ hết xuống sông, xuống bể.
(Anh chị em nào ở Hà Giang thì chia sẻ cho bà con đọc, cần lôi cổ kẻ nhố nhăng này ra ánh sáng).
Hình ảnh tg trong bài viết nhà báo Dương Ngọc

lăng mộ đá toyota thanh hóa