"Tình yêu và nỗi nhớ" đằm thắm một tình thơ chân mộc

  ( Bài viết của Nhà thơ Quang Hoài ) Đại tá Quân đội, Hội viên Hội Nhà văn VN.

   

Tình yêu và nỗi nhớ đằm thắm một tình thơ chân mộc.

( Đọc  "Tuyển tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ” của nhà thơ Nguyễn Quang Huệ )

 

Nguyễn Quang Huệ làm thơ từ những ngày còn là một chàng trai ngồi trên ghế giảng đường đại học. Công việc của một kĩ sư xây dựng đã cuốn hút anh với niềm say mê mới, tưởng như hứng khởi thi ca đã tắt trong lòng. Nào ngờ, từ sau nghỉ hưu,  nàng thơ lại trở về đánh thức và giục giã niềm say mê thời trẻ của anh. Và thơ ca lại đến với trái tim nhạy cảm của anh như một duyên nợ không thể dứt tình. Chỉ trong vòng hơn hai mươi năm, anh đã cho ra mắt bạn đọc mười một tập thơ, trong đó có năm tập thơ anh viết cho lứa tuổi học trò.

   Nguyễn Quang Huệ là một nhà thơ gặt hái được khá nhiều thành công trong lĩnh vực viết cho lứa tuổi hồng, một lứa tuổi hết sức ngây thơ và hồn nhiên trong sáng. Với năm tập thơ viết cho lứa tuổi này: Gà mẹ gà con, Chuyện gấu và mèo, Dê trắng dê đen, Công chúa ếch và Bắc cầu vồng xuất bản trong những năm gần đây, đúng như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã nhận định: “…đã làm sinh khởi cho không khí thơ viết cho thiếu nhi ở ta hiện nay vốn nhiều năm quá bình lặng. Không có một tâm hồn trẻ thơ trong con người thất thập ấy thì không thể viết ra được những tập thơ như thế…”

   Đó là sự khẳng định về thơ viết cho thiếu nhi của anh. Còn viết về người lớn và cho người lớn thì sao? “Tuyển tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ” ra mắt bạn đọc nay mai sẽ trả lời câu hỏi này. Giờ đây trên tay tôi là bản thảo tập thơ đó. Tôi xin nói đôi điều về những cảm nhận của mình trước khi tập thơ được xuất bản, ra mắt bạn đọc.

   Tuyển tập thơ Tình yêu và nỗi nhớ là một tuyển thơ được Nguyễn Quang Huệ lựa chọn theo ý thích của riêng mình từ năm tập thơ đã xuất bản: Dòng sông ký ức, Cánh én mùa xuân, Chợ quê, Ba bậc thềm nhà, Cửa khép hờ và một số bài thơ anh mới sáng tác gần đây. Đây chưa phải là toàn bộ thơ Nguyễn Quang Huệ viết về người lớn và cho người lớn, mà chỉ là một phần đời của thơ anh, một phần diện mạo anh. Nhưng đó là phần quan trọng nhất, phần sâu kín nhất của tâm hồn anh, được hội tụ từ các bài về một chủ đề: Tình yêu và nỗi nhớ. 

     Gần trăm bài thơ trong tuyển thơ này như những lát cắt cuộc đời nhỏ lẻ hợp thành một lát cắt lớn thể hiện phần cơ bản nhất dung mạo tinh thần tâm hồn nhà thơ Nguyễn Quang Huệ. Theo tôi phần cơ bản đó chính là một tiếng thơ lão thực ẩn chứa một trái tim trong sáng và đôn hậu, được thể hiện bằng những lời thơ mộc mạc, giản dị, đôi khi ít dụng công gọt rũa, thổi xao kỹ lưỡng, nhưng hết sức tha thiết và chân thành. Tôi thiết nghĩ chúng ta đồng cảm và sẻ chia với Nguyễn Quang Huệ chính là đồng cảm và sẻ chia với tiếng thơ đó, với phần tâm hồn đó của anh; đồng cảm và sẻ chia với Tình yêu và nỗi nhớ đằm thắm với một tình thơ chân mộc, chứ không phải ở sự dụng công ngôn từ, hình ảnh, hình tượng hay thi pháp thơ hiện đại. Chỉ như vậy cũng đã là một tiếng thơ rất đáng quý và đáng trân trọng. Tôi quý thơ anh chính là quý tiếng thơ đó.

   Đây là hình ảnh một bà mẹ Diễn Châu từ nhà quê xứ Nghệ ra đô thành thăm cháu “ mang cả giọng quê lên tàu” được diễn tả qua hai khổ thơ bằng lời chân mộc của mẹ:

“Thương con nhớ cháu vô chừng

Tui đi thăm nó khi ưng thì về

Tỉnh ngoài không nói mô tê

Quê ta như rứa ai chê mặc người.

Cháu tui đầy cữ hôm rồi

Bữa ni bà mới rảnh rơi lên tàu

Một toa đầy tiếng Diễn Châu

Không quen cũng biết bạn bầu đồng hương…”

        Những câu thơ giản dị thật thà rất mực, không hề có chút kỹ thuật tân kỳ, cứ tự nhiên như được thốt ra từ tấm lòng của mẹ mà tha thiết ân tình, đậm đà tâm hồn xứ Nghệ. Yêu biết bao “ Mẹ tôi mang cả giọng quê lên tàu” !

Đây là “ Chợ quê” nơi hội tụ bộ mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng quê Việt. Với Nguyễn Qua ng Huệ, đó còn là nơi gặp gỡ, đoàn tụ bạn bầu, chia sẻ nhớ thương. Mặc dù ‘Chợ quê’ chỉ có: “ Rổ rau mẹt cá mớ tôm / Đôi ba hàng thịt, dăm con lợn gà / Vài ba chục trứng bày ra…” nhưng đó là nơi: “Trước là gặp bạn, sau là đổi trao”. Và thật dung dị khi anh bộc lộ tâm tình của người quê đi chợ, không còn là nơi buôn bán trao đổi nữa, mà là chợ tình nghĩa, chợ tình người:

“Tiền nhiều mặc những đẩu đâu

Chợ quê góp nhặt lá trầu quả cau

Cảnh quê nghèo túng có nhau

Không đi nhớ bạn nhớ bầu lại đi…”

   Những câu thơ lục bát rất mòn mà sâu lắng, mà da diết, ai bảo chỉ có thánh thót du dương?

    Đây nữa, “Ba bậc thềm nhà”, lại lục bát, nơi không ai sinh trưởng ở làng quê Việt lại không gắn bó thiết tha mặn nồng như cánh cò , cánh võng, bờ tre, bến nước, sân đình…Nguyễn Quang Huệ phát huy sở trường lục bát dân giã của mình:

“Thân thương ba bậc thềm nhà

Đi vào bao lượt đi ra bao lần

Mỗi ngày mấy chục bước chân

Hết lên lại xuống, ngay sân nhà mình.

Ung dung như chốn cung đình

cội nguồn , quên nơi chôn rau cắt rốn, cũng có nghĩa là không được quên gốc gác, truyền thống tổ tiên từ “Ba bậc thềm nhà”

“ Từ sĩ tốt đến quân vương

Nào ai quên lúc náu nương thềm nhà

Ngàn đời từ thuở ông cha

Nhà mình mình ở, thềm mình mình đi

Đậu nghè bái tổ vinh quy

Cũng từ chập chững cô dì đỡ nâng”.

Đó không chỉ là nơi “mình ở” , “mình đi” ung dung tự tại thoải mái, không chỉ là nơi trở về “bái tổ vinh quy” khi thành danh, thành tài, mà còn là nơi “đỡ nâng” chắp cánh cho con người đi ra với cuộc đời rộng lớn. Bài thơ nhắc nhở nhẹ nhàng mỗi người không bao giờ được quên

Lớn khôn, khờ dại từ ba bậc thềm”.

   Câu chữ hết sức mộc mạc, giản dị, mà ý tứ thâm sâu khôn cùng.

   Từ “ Ba bậc thềm nhà ấy, cái “ Chợ quê” ấy Nguyễn Quang Huệ liên tưởng nhắc nhở chính mình mà động đến tâm hồn bao người ra đi “từ lũy tre làng” mỗi khi “xa quê”:

“Ra đi từ lũy tre làng

Trai quê lên phố đa mang cuốc cày

Từ ngày xa ruộng đến nay

Tay chai đã lặn để thay bút cầm”.

Nghĩa là nghề nghiệp, chức phận có thể đổi thay, nhưng tấm lòng con người “trai quê” thì không thể đổi dạ thay lòng, dầu cho:

 “Sáo diều xa vắng bao năm / Bờ xôi ruộng mật đã nằm vào tranh”. Dầu cho:

“Tưởng quê là mảnh đất lành”, nhưng cánh chim không đậu mà bay đến thành phố phồn hoa đô hội để rồi “Nào ngờ lên phố ẩn danh cả đời”. “Xa quê” là sự thổ lộ tấm lòng của tác giả đối với quê hương bản quán, nơi sinh dưỡng mình từ thuở nằm nôi. Đó cũng là một nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, một khi người ta không “vong quê, vong quốc”. sự chân tình của tác giả trong ý thơ sâu lắng của anh đã chinh phục tôi về sự gợi mở một giá trị của văn hóa dân tộc mà ngày nay đang có nguy cơ mai một.

   Cuối cùng không thể không nói đến thơ Nguyễn Quang Huệ viết về tình yêu. Nào là “Chum nếp”:  “Mấy năm chum nếp vẫn đầy / Chỉ chờ cánh thiếp tung bay gọi mời”, để rồi “Công chum chờ đợi bao ngày / Xin đừng trách mối tình này làm chi”. Nào là “Tiễn nàng”: “Thế là nàng đã sang sông / Nàng đi lấy chồng tôi ở lại sau”, để rồi “Tình yêu như một đóa hồng / Nhưng còn gai nhọn mà không trọn lời”, nào là “Rượu tình” kể về một cô gái Ba Vì mời về uống rượu trong khi cô ở ngay Hà Nội, rất gần mình “Giữa lòng Hà Nội thân quen / Sao em không ngỏ chút men mơ màng”, nhưng cái dáng người và đôi mắt nàng đã hút hồn anh “Cao cao dáng ngọc thon đầy / Mắt nhìn gom hết trời mây vào mình”, để rồi nhà thơ mơ màng trách cứ vẩn vơ trong khát vọng yêu đương “Em xinh là của mọi người / Ba Vì có rượu em mời những ai?... Rượu lòng chưa uống đã say / Rượu tình chỉ một chén này ngả nghiêng…” v/v.  và v/v…  

     Chung quy lại, trong thơ tình Nguyễn Quang Huệ luôn luôn thấp thoáng một bóng hồng, gần và xa, xa và gần, tưởng với tới mà không thể với tới, tưởng bắt được mà không thể bắt được, trở thành khao khát, trở thành đợi mong nhưng vẫn cứ muốn được mãi mãi “Một lòng bên anh” như một hoài cảm, như một vọng ước. Ước muốn của em thật cao đẹp, mang đầy tính nhân văn, nào là “Em muốn là dòng sông / Cho thuyền anh xuôi ngược”, nào là “Em muốn là nhành hoa / Tỏa hương thơm dìu dịu”, nào là “Em muốn là thinh không / Cho lòng anh tĩnh lặng”, nhưng cuộc đời đâu chỉ có màu hồng, bởi em đâu là gió, là dòng sông, ngọn cỏ, là hoa, là thinh không nên em vẫn phải trở về chính em:

“Nhưng thương anh mặn nồng

Như lòng em vẫn ước

Dù anh không nhận được

Vẫn một lòng bên anh…”

Đó là lời cô gái hay chính Nguyễn Quang Huệ hóa thân làm cô gái để giải tỏa tâm tình của mình? Có lẽ chính Nguyễn Quang Huệ mới biết rõ nhất. Nhưng bong hồng và một tình yêu đơn phương với những nhát đợi thì luôn ẩn hiện, day trở trong thơ anh.

Tôi xin khép lại bài viết của mình ở đây. Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Quang Huệ với “Tập tuyển thơ TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ” như một chùm quả đầu mùa đang dần chín và tỏa hương thơm. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm được và đồng cảm với tuyển tập thơ này.

 

Phố Vương Thừa Vũ Hà Nội ngày 21 tháng 5 – 2019

Quang Hoài

(Hội viên Hội nhà văn VN).


Một chặng đường

 Sắp tới ngày kỷ niệm 35 năm số Tạp chí "Người Xây  Dựng" ra số đầu tiên (1986 - 2021). Tổng Biên tập tạp chí: Nhà báo Nguyễn Xuân Hải gọi điện cho tôi:

- Nhà thơ cố gắng viết cho một bài để đăng vào số kỷ niệm này. Là một cộng tác viên tôi nhận lời ngay. Sau hai ngày tôi gửi ông hai bài: MỘT CHẶNG ĐƯỜNG và bài BA BẬC THỀM NHÀ, Ông gọi lại sẽ đăng bài Một Chặng Đường, còn lại bai Ba bậc thềm nhà để lại đăng vào số Tết cho nó oách. 

Tôi trả lời vậy thì tùy Tổng Biên tập. Nhưng bài Ba bậc thềm nhà đươc các nhà thơ và các Kiến trúc sư khen ngợi. 


Một Chặng Đường


Ba lăm năm một chặng đường bền bỉ

Từ số đầu tiên cho đến hôm nay

Nắng đổ mưa tràn giá buốt đổi thay

Vẫn giữ tay chèo cùng NGƯỜI XÂY DỰNG.


Tạp chí mới mỗi ngày mỗi rạng

Đưa nhanh tin nóng hổi bao miền

Từ quê nghèo đến thành phố bình yên

Từ trong nước đến khắp miền thế giới.


Những đô thị yên vui, những công trình xây mới

Những ước mơ thay đổi cuộc đời

Những lâu đài to đẹp muôn nơi

Đều có mặt trong từng trang tạp chí.


Thành quả con người qua bao thế hệ

Đúc kết thành bài học mai sau

Vui cùng Tạp chí thân yêu

Ba lăm năm tiếp bao điều chờ mong...


Hà Nội ngày 10 tháng 9 năm 2021

Quê hương

 Diễn Hạnh ơi mắm mặn tự thuở nào

Vào mâm cơm thêm đậm đà cà muối

Rau ngoài vườn xanh non tơ mời gọi

Luộc hay xào có từ buổi hồng hoang.


Vị ngọt bùi mắm cáy chấm rau lang

Cơm độn khoai nuôi anh hùng, thi sĩ

Rẻo cát pha ươm mầm thêm mùi vị

Của quê nhà không lẫn được nơi đâu.


Chim sẻ về làm tổ mấy hàng cau

Mẹ chăm chút dàn trầu xanh biếc

Đất quê ta qua một thời oanh liệt

Đã xây nên bao sự tích anh hùng.


Đường làng giờ xe chạy rộng ung dung

Trường Trung học phổ thông ngay đầu xã

Con em ta như một vườn hoa nở

So với thị thành chẳng khác là bao.


Chuông nhà thờ dìu dặt nhả từng câu

Báo tin vui mỗi ban mai thức dậy

Tiếng cầu kinh rộn ràng từ Thu ấy

Như nhắc lòng gìn giữ lấy quê hương...



Xe ôm và những người khách

( Tản văn của Nguyễn Quang Huệ ) 


    
     Trên đường đi từ cổng chùa Trấn Quốc ( đường Thanh Niên ) đến Bảo tàng Văn học Việt Nam (đường Lạc Long Quân ) là một quãng khá dài. Tôi phải đi xe ôm qua đường Yên Phụ men theo Hồ Tây. Ông xe ôm chừng gần bảy mươi tuổi. Trông ông phúc hậu thật thà, tôi bắt chuyện: 
 - Bác năm nay bao nhiêu tuổi rồi? Tôi hỏi.
 - Dạ, em sáu tám ạ. Ông trả lời. Tôi hỏi tiếp:
 - Sao bác không nghỉ ngơi, để con cháu đỡ đần cho bác?
 - Một số người đi xe em cũng có câu hỏi như ông. Ông lái kể: Chả là trước đây em làm bên đường sắt, khi giảm biên chế họ cho em nghỉ một cục. Về theo chế độ 176 của nhà nước, tưởng có vốn làm ăn nhưng hóa ra không có hậu ông ạ. Sau khi nghỉ buôn bán không được, vốn hụt dần. Cơ duyên thương trường mình không có kinh nghiệm nên thất bại. Bây giờ các cháu lớn cả rồi. Gia thất tạm ổn, chưa được đầy đủ, nhưng chúng nó nhờ bên ngoại là chính nên các cháu nội ngoại đứa nào cũng xinh đẹp, giỏi dang cả. Cũng do các con tự lập cả thôi. Bố mẹ giúp đỡ chẳng được bao nhiêu.
 - Mừng cho bác có những đứa con biết tự lập sớm.
   Ông giải thích thêm: 
 -Cũng do hoàn cảnh cả thôi ông ạ. 
 Tôi hỏi luôn: Thế trong khi đi phục vụ khách hàng có câu chuyện nào vui hay buồn không?
 - Vui có, buồn cũng có. Như khách đi xe nhiều người thương cảm hoàn cảnh của em họ cứ nài nỉ trả thêm tiền. Có người mười ngàn, cũng có người hai mươi, năm mươi, thậm chí cả trăm. Em nói chỉ lấy đúng giá nhưng họ không nghe, bảo rằng giúp bác mấy đồng có đáng là bao. Em nhận để người ta vui lòng ông ạ.
 - Hoàn cảnh như bác ai cũng muốn giúp đỡ. Chứ như người chở khách khác họ cứ tăng thu vô tội vạ, nhất là với người nước ngoài và người tỉnh xa về Hà Nội. Ông hưởng ứng luôn: 
 - Quả cũng có người như thế.

 -Thế còn chuyện buồn? tôi hỏi? bác trả lời: Có một lần em đón xe ở dốc An Dương đường Thanh Niên, một cô gái nhờ em lai về tận trong Hà Đông. Cô ấy quãng hai bốn hay hai lăm gì đó. Trông người rất tươi trẻ, vóc dáng đài các lắm. Em nghĩ bắt được cuốc xe này hên rồi vì đường xa nên tiền công cũng được thỏa thuận trước 150 ngàn đồng. Đi được hơn nửa đoạn đường thấy khoảng cách hai người cứ ngắn dần và ép vào nhau. Vòng một cô ấy cứ đụng cọ vào lưng em. Hai tay cô ta ôm chặt ngang hông. Em thực sự cũng thấy buồn buồn và hồi hộp. Suy nghĩ mãi chả nhẽ con bé này nó định cưa mình. Một già một trẻ có thể nào xẩy ra được. Với lại mình là xe ôm thì hy vọng cái nỗi gì mà bám. 

   Đến khi xe qua thị xã Hà Đông, cô gái bấm bấm vào hông và nói anh cho em xuống đây. Đứng bên cạnh tôi, nhìn quanh một lượt không có ai cô ta nói: 
  - Bây giờ em không có tiền, hay là anh và em cùng vào nhà nghỉ cạnh đây, anh muốn làm gì em thì làm. Nói rồi cô ấy mở túi ra đưa trước mặt, quả là không có tiền thật. Cô ta nói thêm: Đêm qua thằng chó nó quỵt tiền nên không có đồng nào cả. Anh giúp em nhé. Em chửi luôn: Đồ khốn nạn. Người khác quỵt tiền mày, mày lại quỵt tiền tao à? Mày có biết sáng sớm tao đi mở hàng bao nhiêu hy vọng ở mày không?
 - Anh ơi, nói nhỏ thôi. Anh thông cảm cho em, để xe ở ngoài khóa lại vào đây uống nước đã.
 - Ăn uống gì? Tao không có tiền. Mày không biết tao cũng như mày à. Đồ giẻ rách, cút ngay. Con bé vừa sợ người ngoài túm tụm hóng chuyện, vừa lý nhí em cám ơn anh và đi thẳng. Tôi thẫn thờ một lúc rồi quay xe lại. Một mình lẩm bẩm với mình: Mẹ kiếp, sao hôm nay mình đen thế! …. Em dịu giọng ông ạ. Nghĩ cho cùng chúng nó cũng cơ cực mới phải đi bán thân như vậy. Thật là “Ngựa người- Người ngựa” như tác phẩm của Lưu Quang Vũ ông nhỉ !… 

….. Thấy đề tài còn hấp dẫn, tôi hỏi thêm:
 - Còn chuyện gì nữa không bác? Ông ta kể: Một lần đang đợi xe, có khách ăn mặc rất lịch sự, dày đen bóng, quần áo vét tông, sơ mi màu rất hợp, xách một cặp da đen không lớn không nhỏ như cặp tài liệu, nhờ tôi chở đến tòa soạn một tờ báo. Tôi đoán anh ta là phóng viên hoặc quản lý báo chí cơ quan này. Đến nơi anh ta xuống xe, rút trong túi ra tờ 100 đô la nói rằng: Tôi không có tiền việt, nhờ bác đi đổi hộ, trừ tiền công của bác, số còn lại trả tôi. Một trăm đô tôi chỉ đổi 1,8 triệu thôi.
 - Nhưng tôi làm gì có tiền triệu để đổi cho anh.
 - Vậy Thế này nhé, bác đợi ở đây mười phút, tôi vào cơ quan mượn tiền anh em, ra trả cho bác. Em đang lưỡng lự thì hắn đã đi vào khỏi cổng. Đứng đợi nửa tiếng không thấy hắn ra em đành vào hỏi mấy ông bảo vệ. Người ta bảo không biết ông khách này, chúng tôi không giám hỏi vì nom ông ấy rất đàng hoàng.
 - Vậy phía sau cơ quan có cổng phụ không? Bác xe hỏi.
 - Không có cổng phụ, chỉ có nhà mấy hộ gia đình phía sau có một lối nhỏ đi vừa một xe cải tiến để người ta đi ra ngoài. Ông bảo vệ trả lời. Thế là lại gặp một thằng lừa đảo! mà có khi tờ 100 đô la kia là tờ tiền âm phủ cũng nên. Em chỉ trách mình không cảnh giác, giá như cứ cầm, phát hiện tiền giả thì hắn đã no đòn với em rồi…

 … Mà hình như ông là nhà văn à? Không nhà văn, nhà báo cũng là nhà thơ vì em thấy ông chú ý những câu chuyện em kể. Em ở khu vực này lâu em biết, ai đến Bảo tàng Văn Học đều như vậy cả.
 - Tôi cám ơn bác về những câu chuyện vừa rồi.
 - Không có gì. Mấy khi gặp được khách quý như ông đâu, giãi bày tâm sự với nhau hiếm có lắm ông ạ. Em mong mấy ngày lại gặp ông một lần, em còn nhiều chuyện lắm.
 - Vâng, xin cám ơn bác.
   Tôi gửi bác 50 ngàn. Bác nói: em chỉ lấy ông 30 ngàn như thỏa thuận ban đầu. Thôi, bác cứ nhận đi, không phải trả lại và tôi xin bác một kiểu ảnh làm quen bác nhé. Tôi đưa máy lên chụp. Khuôn mặt ông tươi rói, rạng rỡ. Chắc ông ấy vui lắm… 
          
     Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 2018

Ba con chim ngói

     ( Truyện ngắn của Nguyễn Quang Huệ ) 


      Tháng 9 năm 1982 Công ty Xây dựng 18 đang là Tổng thầu ( Tổng B ) tại công trường Nhiệt điện Phả Lại. Trong buổi giao ban đầu tuần của Ban Chỉ huy Thống Nhất hôm ấy có tất cả 10 giám đốc các xí nghiệp của công ty 18, 10 Giám đốc của các đơn vị ngoài công ty như Xn 204 Hải Phòng, Xn cơ giới 17, Xn 304 Hà Bắc, Sư 319, Trung đoàn 11, Trung đoàn 29, Lắp máy 69, Ban kiến thiết Nhà máy và Đoàn chuyên gia Liên Xô. Tất cả đến hơn 40 người…
    Chủ trì cuộc giao ban là Giám đốc Tổng B: Ông Nguyễn Tôn và Trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô I.A.Nốp.
 
    Không khí nóng bỏng của buổi giao ban không phải do thời tiết mà do tiến độ xây dựng và lắp máy có thể bị chậm. Gần một tuần mưa bão như trút nước những hôm trước đó đã làm tê liệt công tác xây dựng và lắp ráp thiết bị. Ngay bây giờ phải cứu lấy tiến độ vì thời tiết đã ổn định hơn. Cuối tuần Bộ Trưởng Đồng sĩ Nguyên có lịch xuống thăm công trường…
 
     Hậu qủa của trận lụt đã làm cho đường ống tuần hoàn nổi lên như con trăn khổng lồ vì đường kính của nó đến 1,6 mét, chế tạo hoàn toàn bằng thép tấm, dày 10 ly nổi lên cả tuyến mương sâu đầy nước, dài chừng 200 mét. Sau khi thảo luận, đoàn chuyên gia đề xuất một số việc trước mắt phải hoàn thành trong tháng này. Để cứu vãn tiến độ, Ban Chỉ huy đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:
 
    - Xí nghiệp Xây Dựng 101 chịu trách nhiệm thi công dứt điểm bơm thoát nước mương đất đường ống tuần hoàn, để lắp máy 69 nắn chỉnh lại đường ống và lấp đất, lu lèn chặt hoàn chỉnh mặt bằng. Hoàn thành những phần việc trước hàng A và trạm biến áp, đẩy nhanh tiến độ mương thải từ nhà máy ra sông Thái Bình.
 
   - Xí nghiệp Xây dựng 102 hoàn thành việc đổ bê tông băng tải nghiêng cho đến cốt 53 mét, hoàn thành móng và sàn đỡ máy tuốc bin. Xong toàn bộ khung sườn, mái của gian máy và gian Bun ke để lắp máy vào lắp thiết bị. Hoàn thành đổ bê tông móng ống khói chính.

    - Xí nghiệp Xây dựng 104: Gấp rút hoàn thiện mái Lò phụ khởi động, hoàn thành thi công móng máy và nền sàn ở đây để Xí nghiệp Lắp máy 69 chuẩn bị lắp lò phụ. Hoàn thành đổ bê tông móng máy nghiền, móng lò sô 1 và số 2, Móng tời. Mương thải xỉ và đường ống thải xỉ, hoàn thành tuyến cầu cạn và mương cáp. Thường xuyên kiểm tra gia cố đường cẩu BK 1.000 để chuẩn bị lắp khung lò số 1.
 
      - Trung đoàn 11 gấp rút hoàn thành Trạm bơm Bờ sông.
 
      - Trung đoàn 29 tiếp tục hoàn thành tuyến đường ô tô từ Quốc lộ 18 vào nhà máy.
 
     - Xí nghiệp cơ giới 17 và Xí nghiệp 204 Hải phòng kết hợp với nhau hoàn thiện khu vực kho than và bến cảng để tiếp nhận than và thiết bị máy móc…
  
    - Công ty đường sắt duy trì tốc độ xây lắp đường ray từ Sao Đỏ về kho than, chuẩn bị tiếp nhận than từ Mạo Khê - Uông Bí về tập kết trước một lượng lớn, tránh mùa mưa gây khó khăn cho việc vận chuyển v.v… 

     Ông Nguyễn Tôn quay sang hỏi ý kiến Trưởng đoàn chuyên gia I. A. Nốp, giám đốc công ty lắp máy 69, Trưởng ban quản lý dự án và các thành viên trong cuộc họp có ý kiến gì bổ sung không? Tất cả nhất trí ra nghị quyết hội nghị và nêu quyết tâm thực hiện bằng được tiến độ đã đề ra. 

     Sáng hôm sau Giám đốc Nguyễn Tôn và bộ phận thường trực như Trưởng phòng Kỹ Thuật, Trưởng phòng Thi Công… đi hiện trường kiểm tra việc tổ chức thực hiên nhiệm vụ mà hội nghị đã thông qua. Đi qua vị trí các đơn vị thi công, ông rất rất vui vì quân số đã được huy động tối đa. Tiếng máy, tiếng xe, tiếng va đập của sắt thép trên công trường ồn ào sôi động một vùng rộng lớn. Những chùm hoa sắt hàn tư trên cao khu vực gian máy, gian bun ke, gian lò và băng tải nghiêng dội đổ xuống đất như những cây pháo hoa liên tục làm cho lòng ông thêm ấm áp. Ông nghĩ với nhịp độ này không đến nỗi lo lắng lắm, chắc chắn cuối 83 đầu 84 sẽ khởi động được tổ máy số I.
 
     Đến địa bàn của Xí nghiệp 101 ông chỉ thấy ba đội trưởng cùng anh em công nhân làm việc. Đội trưởng thấy Giám đốc công ty vội lau tay chân đến bên ông chào hỏi và tiếp chuyện. Ông hỏi:
   -Phó Giám đốc thi công Nguyễn Hạnh đâu, không thấy có mặt?
   -Dạ, hôm nay anh ấy có việc gia đình về gấp ạ. Trước khi đi anh ấy đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các đội trưởng rồi ạ.

    Mấy cậu công nhân đứng cạnh cố tình nói to để giám đốc công ty nghe rõ: 
   -Dạ, nay là tháng chín, mùa lúa chín sớm bắt đầu, từng đàn chim ngói di cư về Nam rồi ạ. Nghe vậy nhưng Giám đốc Công ty không hiểu. Ông cứ tưởng phó Giám đốc Xí nghiệp tranh thủ về gặt lúa giúp vợ. Ông lặng lẽ dặn dò mấy đội trưởng cố gắng động viên công nhân hoàn thành sớm việc bơm tát nước đường ống tuần hoàn. Sau đó giao cho lắp máy chỉnh sửa nắn lại đường ống thép để mình lấp đất, lu lèn và hoàn trả mặt bằng. Ông cũng nhắn lại: Lúc nào anh Hạnh lên công trường, nhắn lại với anh ấy lên gặp giám Đốc công ty ngay. Trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này mà đi không báo cáo, không xin phép, bỏ hiện trường, khác nào bỏ ngũ khi xung trận! Ông buồn bực bắt tay mấy đội trưởng, tỏ vẻ bực bội rồi đi đến đon vị khác.       
 
   Ba ngày sau ông Hạnh lên, đem theo một lồng chim ngói quãng chục con. Chúng nó đói ăn nên cắn nhau chí chóe. Mấy đội trưởng báo cáo lại việc Giám đốc Công ty đi kiểm tra hiện trường và hỏi anh tại sao không có mặt, tỏ ý khiển trách anh đi về quê không báo cáo, không xin phép, và đoán rằng kỳ này bị kỷ luật nặng rồi. Anh lên gặp ngay làm sao xếp bớt giận. Nguyễn Hạnh lo lắng ra mặt, vội giao lại lồng chim bảy con cho ba đội trưởng và ban giám đốc ở nhà vặt lông làm thịt uống rượu. Hạnh vội thay quần áo đem ba con chim đã vặt lông sẵn từ nhà. 

     Trời nhá nhem tối, khu nhà tập thể của lãnh đạo công ty đã lên đèn. Trước nhà là sân cầu lông láng xi măng bằng phẳng, các vạch sơn trắng đúng kích thước tiêu chuẩn của sân cầu lông. Sân đã lên đèn sáng loáng. Vài người đang thi đấu vui vẻ, nhưng không thấy Giám Đốc. Nguyễn Hạnh ngó nghiêng một lúc đoán rằng xếp đang ở trong nhà, mạnh dạn gõ cửa bước vào.
    - Chào anh ạ. Ông Nguyễn Tôn đang ngồi viết lách gì đó, quay lại vừa trông thấy Nguyễn Hạnh đã nổi đùng đùng cơn giận dữ chất vấn ngay: 
    - Anh bỏ việc ở công trường về quê trong lúc nước sôi lửa bỏng là thế nào? Nguyễn Hạnh ấp úng trả lời:
    - Dạ thưa Giám đốc: Trước tiên em có lỗi với Giám đốc, có lỗi với lãnh đạo công ty và xí nghiệp. Anh biết không? Lúa sớm quê em đã gặt, nhà rất neo người do vợ em ốm, các con còn nhỏ, nếu không về giúp cô ấy gặt kịp thời, chung quanh hàng xóm gặt xong còn trơ lại ruộng nhà em, chuột bọ các nơi sẽ dồn lại phá phách. Hàng đàn chim ngói sẽ sà xuống ăn hạt sẽ mất trắng.
  
    Trước khi đi em đã phân công cụ thể cho mấy đội trưởng rồi. Công việc chỉ đạo rất tốt. Mai anh ra hiện trường kiểm tra lại, lời nói của em là đúng. Giám đốc Tôn ngắt lời:
      - Anh không phải mời, chiều nay tôi đã đi qua đó rồi. Nhưng sao đi khỏi hiện trường không báo cáo? Hạnh tỏ vẻ ân hận nhưng nói lại:
     - Em sợ anh không cho mà bỏ đi tội càng nặng hơn!...Giám đốc Tôn nhẹ nhàng nói:
     - Cậu cho rằng trái tim chúng tớ là sắt đá hay sao?
     - Dạ, em không giám nói thế. Nhưng trong hoàn cảnh này em sợ như vậy. 
     
     Nghĩ đến những ngày tháng cùng chung chiến hào xây dựng trên các công trường, cơ mặt Giám đốc dần dần dãn ra vui vẻ hơn trước. Ông quý trọng những đệ tử thế này: Thật thà, chất phác, chịu khó, ít khi trái lệnh, tình cảm chân thành và thực sự tôn trọng mình. 
     Đoán biết xếp đã bỏ qua cho mình, Nguyễn Hạnh giãi bày thật lòng: Em xin về gặt lúa giúp gia đình là một lý do, còn có lý do thứ hai: Mùa này là mùa lúa chín sớm, chim ngói tràn về nhiều. Ở quê em có nghề bẫy chim vào mùa này. Có gia đình bẫy được hàng mấy trăm con chỉ trong nửa tháng.
     Từ lúc lúa vàng mơ, đỏ đuôi tới lúc gặt xong, không những có cái ăn mà còn đem bán rất đắt, không phải mang ra chợ, có người đến nhà mua mang ra Hà Nội. Nghề này không cần vốn, chỉ cần mua tấm lưới mười lăm đến hai lăm mét, chăng ngang thân cây lúa, đàn chim ngói sà xuống ruộng, đánh động là chim giật mình bay rúc vào lưới. Cứ thế nhặt bỏ vào lồng. Mỗi ngày bắt được trăm con trở lên là ăn chắc.

    Thấy xếp chăm chú nghe, Hạnh vừa nói vừa đứng dây: 
    - Nhân dịp thăm anh, em mang biếu anh ba con đã làm lông. Nguyễn Hạnh ra xe mang vào một túi vải lấy ra ba con đang run rẩy lập cập do bị đau và lạnh, kèm theo một chai rượu quê nấu bằng nếp mới. Nghe vậy Giám đốc nói:
     - Đáng ra cậu không nên đưa đến đây. Cứ để dưới xí nghiệp nhờ cấp dưỡng làm hộ. Xong việc lấy xe xí nghiệp đón tớ xuống cùng vui với anh em. Hạnh thưa: Dạ dưới đó cũng có phần rồi ạ. 
     Giám đốc tiếp lời:
     - Anh em với nhau không cần quà cáp. Nhưng đã lỡ rồi. Bây giờ cậu làm nốt những việc còn lại vì không có người làm. Vợ con tớ  ở Hà Nội cả. Tớ ở đây có một mình, ăn uống tập thể, chỉ ăn sáng thỉnh thoảng nấu nắm mỳ sợi cho qua bữa, mà cũng nhờ tạp vụ nấu giúp. 
    - Việc làm thịt và chế biến em đã quen. Nguyễn Hạnh cầm ba con chim vào bếp, vặt nốt lông tơ còn sót, sau đó bóp ngang thân vào vùng phổi của chim, gần với cánh, chim bị ngạt và chết. Mổ bụng, moi ruột. Bật bếp dầu thui qua cho cháy hết lông tơ. Dùng kéo cất mỗi con làm 4, ướp hành củ thái nhỏ với thìa nước mắm một lúc. Biết rằng xếp làm gì có các loại gia vị nên Nguyễn Hạnh đã mang đầy đủ. Sau đó rán đến lúc cánh dòn là được.       

    Một khay đầy mang lên bàn tiếp khách, mùi thơm ngào ngạt vào mũi, thơm ra khắp phòng, kích thích thưởng thức món ăn xưa nay hiếm. Giám đốc Tôn nói:
   -Cậu sang mời hai Phó Giám đốc lại đây cho vui, nhưng đừng nói ăn uống mà chỉ nói sang xếp Tôn có việc. Tiện tay Giám đốc lấy lọ lạc rang do vợ chuẩn bị sẵn cho chồng mang đi công trường để ăn thêm. Ông đổ ra đĩa, ngồi chờ.
      
     Mấy thầy trò uống rượu với thịt chim  rán và lạc rang rất ngon miệng, nom thỏa mãn lắm. Tuy vậy xếp Tôn cứ nhấp vài ba ngụm rượu vào là bắt đầu đỏ mặt. Một lúc sau anh đặt chén xuống xin phép không uống nữa. Anh chị em trong cơ quan đều biết tửu lượng của xếp kém lắm nên không ai ép. Tuy vậy Anh vẫn nhắc nhở Nguyễn Hạnh từ giờ trở đi không được rời khỏi công trường cho đến lúc phát điện tổ máy số I đấy nhé….

Văn hóa cúi chào của người Nhật

       ( Ghi chép của Nguyễn Quang Huệ )

 
    Diễn Đàn Văn hóa Nghệ thuật Đường sắt và Xây Dựng Việt Nam tuy mới thành lập được gần một năm, nhưng đã ra mắt được ấn phẩm “ Tiếng còi tàu ”. Hội viên Diễn Đàn gồm những người có năng khiếu sáng tác về văn thơ, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, nhiếp ảnh và sân khấu. Ấn phẩm dày 168 trang, khổ 19 x 27 có đầy đủ các ngành nghệ thuật tham gia. Bài viết có nội dung cổ vũ, động viên cán bộ, nhân viên một ngành vận tải đặc chủng của bộ Giao thông Vận tải, đó là Đường sắt VN.
    Ngày ra mắt ấn phẩm được tổ chức hoành tráng và rất công phu tại một hội trường sang trọng. Âm li, loa đài đầy đủ. Các tiết mục văn nghệ được tập dượt thành thục dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ có tay nghề, có dàn âm thanh hòa tấu cùng các ca khúc đó.

    Riêng các loại hoa, nhiều như một đám cưới quý tộc. Các chị mua hoa tươi tận chợ đầu mối Nghi Tàm về tự cắt tỉa và cắm từ 14 h đến 20 h mới xong. Hoa bày từ ngoài hành lang đến sân khấu hội trường, đủ các loại: bó to, nhỏ, cao, thấp. Tính sơ bộ mất hai triệu tám trăm ngàn đồng. Ăn chơi không sợ tốn kém, dĩ nhiên rồi, nhưng tiền hoa và công sức các chị bỏ ra hơi lãng phí, nên cần rút kinh nghiệm cho lần sau. Lễ ra mắt ấn phẩm “ Tiếng còi tàu ” diễn ra trang trọng và thành công ngoài mong đợi. Có ba tham luận được đọc trước hội nghị, trong đó có hai tham luận là của người nhà, ca ngợi cái hay cái đẹp của ấn phẩm. 
   Riêng tham luận của khách, một nữ Giáo sư Tiến sĩ văn học, ngoài ca ngợi cái đẹp của những bài được đăng, còn góp ý thêm những điều chưa thành công như ấn phẩm quá dày, một vài bài chất lượng thơ kém. Một số bài văn quá dài dòng đến 36 trang và nội dung cũng chưa thiết thực. Nên thêm những mẩu chuyện vui cười, như vậy mới hấp dẫn người đọc.

    Sau đó mấy hôm, ban chấp hành Diễn Đàn mời họp rút kinh nghiệm, nêu ra những góp ý của nữ giáo sư. Một vài người tỏ ra không hài lòng với cách góp ý như thế và thề lần sau không nhờ nữa. Nhưng có mấy người lại cho rằng đó là những ý kiến góp ý chân thành để lần sau hoàn chỉnh hơn. Không nên để người khác có ý nghĩ văn mình, vợ người, bảo thủ, mẹ hát con khen hay…
    Anh Đặng Tiến Dũng, một nhà báo, cựu phó tổng biên tập tờ báo ngành trước đây ngồi nghe từ đầu không phát biểu gì, chỉ xin kể câu chuyện: CÂY LÚA VÀ VĂN HÓA CÚI CHÀO CỦA NGƯỜI NHẬT. Anh kể: Ở nước Nhật người ta lấy hình tượng cây lúa để xây dựng nền văn hóa chào hỏi của họ. Cây lúa tốt nhiều hạt, hạt mẩy, phẩm chất tốt thì tự nó cúi xuống, còn những cây lúa hạt lép phẩm chất kém, cứ đứng thẳng trơ trơ, mà loại này ít hơn loại bông nặng hạt. Loại đứng thẳng có rất ít trong một thửa ruộng.
    Con người ta cũng vậy, khiêm tốn, tôn trọng người khác, đó là người tốt. Do đó người Nhật khi bắt tay chào hỏi một ai đều cúi đầu rất trân trọng. Một vài lãnh đạo các nước trong đó có lãnh đạo nước ta sang thăm Nhật khi bắt tay chào Nhà Vua nước sở tại cứ đứng ngay lưng, trong khi Nhà Vua tuy thấp hơn vẫn cúi chào một cách mến khách. Có việc như vậy vì lãnh đạo đó không hiểu phong tục người Nhật mà thành thất lễ. Nhà báo chỉ kể đến đó và dừng lại. Mỗi người tự suy nghĩ cho riêng mình ….        
     Cuối cùng cố vấn và lãnh đạo Diễn Đàn quyết định: số tới sẽ ít trang hơn, mỗi tác giả chỉ được đăng một đến hai trang, chọn lọc bài kỹ hơn, không đăng những bài quá dài mà nội dung không thiết thực cho đối tượng mình phục vụ. Đi vào thực tế cuộc sống và công tác của cán bộ, nhân viên để bài viết có nội dung sống động. Đồng thời sưu tầm thêm một số mẩu chuyện vui, hài hước hấp dẫn độc giả hơn. Mở những chuyên đề mới lạ sẽ thu hút được nhiều bạn đọc hơn. 

    Cả hội nghị phấn khởi đón nhận những quyết định đúng của lãnh đạo Diễn Đàn, bắt đầu biên tập những bài đầu tiên của tập san “Văn hóa Việt” theo gợi ý của nữ Giáo sư Tiến sĩ chuyên ngành sáng tác và thẩm bình văn chương đang giảng dạy ở Học viện Báo chí và tuyên truyền của nhà nước…

Mời bạn thăm nhà

Mời bạn nhớ ghé thăm nhà 

Có tranh sơn thủy, có trà xứ Tuyên 
Có thơ, có truyện giải phièn 
Có bình rượu báo nhấp liền mềm môi 
Loa kèn nở trắng chào mời 
Vinh quy bái tổ đón người thăm quê 
Gái làng đón đợi ven đê 
Aó viền hoa lý cúc chê ngực đầy 
Khăn Piêu đẹp tựa làn mây 
Xin mời bạn đến chốn đây vui cùng... 

Ghi chú: Đây là bài thơ giới thiệu về tác phẩm nghệ thuật, những bức tranh sơn dầu trên toan trưng bày ở phòng khách nhà tôi.

Kiếm tiền

   (Truyện ngắn của Nguyễn Quang Huệ )


     Câu chuyện này nói về những cán bộ, công nhân Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở Cộng hòa Iraq những năm 1988 – 1990. Để trả nợ việc nhà nước ta được chính phủ bạn cho vay dầu phục vụ chiến tranh và xây dựng hòa bình sau năm 1975. Không như anh em đi các nước Đông Âu, sang đến nơi chỉ làm việc một thời gian rồi tìm cách bỏ việc ra ngoài kinh doanh buôn bán các mặt hàng khan hiếm, kiếm tiền dễ dàng hơn.

     Ở Iraq không có chuyện tìm việc làm ngoài. Nhưng một ít công nhân mình lại có sáng kiến làm bánh cuốn, bánh phở. Muốn có sản phẩm phải có công cụ là cối xay bột. Chụm đầu vào nhau phát huy sáng kiến để tạo ra cối xay bột. Mấy thợ nề bậc cao mày mò rồi cũng làm ra một cái cối bằng xi măng cát và sỏi nhỏ.Thớt trên thớt dưới đủ cả.
     Đến khi cối đạt cường độ mác bê tông 200 và bảo dưỡng ẩm đủ 28 ngày, mỗi người một việc: người ngâm gạo, người xay, người tráng bánh, hào hứng như một xưởng sản xuất. Từ đó bánh phở, bánh cuốn ra đời phục vụ anh em mình. Chỉ có điều không có nước mắm để pha chế nước chấm, đành phải lấy mỳ chính pha nước muối và hạt tiêu và đường thắng lên tạo mầu như nước mắm. Ăn bánh cuốn xứ người để đỡ nhớ một sản phẩm quê nhà. Ăn để an ủi phần nào khi xa làng quê yêu dấu. 
     Một bạn đã sang và làm việc được sáu tháng viết thư về nhà cho vợ báo tin: Chú Nguyễn Văn Hữu 
( Thợ nề ) đã làm giúp anh cái cối xay bột để làm bánh cuốn, bán kiếm tiền. Nhưng được mấy chục hôm cối bị vỡ. Bạn này cũng hóm hỉnh làm mấy câu thơ gửi về quê trêu vợ:

 - Anh sang Iraq làm mì 
Cối xay thì hỏng, cối dì còn nguyên?

     Vợ viết thư sang động viên chồng:

 - Mười tám tháng nữa hàn huyên 
Thớt trên thớt dưới lại liền như xưa. 
 
    Ông chồng viết thư về giải thích cho rõ vì nghĩ rằng vợ ở nhà hiểu lầm:

 - Anh sang Iraq làm mì
 Cối nhà thì hỏng, cối Dì còn không ?

     Ý của ông chồng hỏi Dì ( em vợ ) đã tổ chức cưới chồng chưa?... 
     Vợ điên tiết viết thư sang:

 - Hỏi gì nhăng cuội vậy ông 
Cối nhà không giữ chỉ trông cối Dì ? 
Cối Dì người đã mang đi
 Có mong chẳng được làm chi đến phần
 Khôn hồn thì giữ lấy thân!... 

     Lao động tại nước bạn vất vả đã có những câu chuyện bi hài nhưng cũng có những câu chuyện do chính anh em mình tạo ra nhiều tiếng cười để động viên nhau vượt qua khó khăn trước mắt…
    Cái bức xúc nhất tại công trường là thiếu bóng dáng của phái đẹp. Cả công trường gồm các loại Tây và ta ngót ngàn người mà không có một phụ nữ nào. Đàn ông qua mấy tháng không trông thấy bóng dáng đàn bà đâm ra phát cuồng vì tình. Một số quân mình còn đón lõng mấy cô nhân viên văn phòng của ban quản lý người da trắng cứ chiều chiều từ trung tâm đi xe buýt qua đường chỉ lấp ló trông thấy cái mặt đội khăn. Hả hê bất chấp đang trong giờ làm việc. Có chàng về đến khu ở vào căng tin hỏi mua một khay trứng nhưng cứ đòi chủ người Việt, đáng tuổi mẹ mình mang ra ngoài, anh chàng luồn tay vuốt từ chân đến ngang bụng, đụng vào cả vùng nhậy cảm, bị mắng té tát nhưng hắn chỉ cười trừ bảo rằng: Do xa vợ lâu ngày quá nên xin chị thông cảm. Tất nhiên khay trứng không bị rơi mới có chuyện lạ, cả bọn được trận cười khoái chí. 

     Chúng tôi sang Iraq làm việc được ba tháng thì được tin đợt công nhân mới sắp sang. Trong số đó có một nhân vật nữ. Đó là kiến trúc sư Tạ Minh Hải. Cô sang đây với nhiệm vụ phiên dịch tiếng Anh. Vốn xuất thân con gái của một cán bộ cao cấp hàm Thứ trưởng, ở Hà Nội, học ở Nga về, phom người trắng trẻo, cao ráo, xinh gái có khuôn mặt ưa nhìn nên có sức hấp dẫn lạ kỳ ở xứ sở chỉ có đàn ông. Một bông hồng giữa sa mạc khô cằn nên được cả công trường quan tâm. Mấy đêm đầu tiên lúc cô sang cứ phải đóng cửa ngồi trong phòng vì người đến chen nhau xem mặt. Tây trắng như Ba Lan, Tây đen như Xu Đăng, da nâu như Ấn Độ, Bangladesh, Cai rô, cả da vàng Việt xúm xít vây quanh phòng. Ngó nghiêng cố tìm ra một lỗ nhỏ để ngó xem cho rõ. Có người ở ngoài cố hỏi vọng vào những câu vu vơ: 
- Chị ơi, chị đi đường có mệt không? Chị có bị sao không? Hoặc : 
- Em ơi, em mở cửa ra có được không?
 Tất nhiên không có câu trả lời nào cả! Tôi có làm bài thơ như sau: 
 
 CHỈ CÓ MÌNH EM 
( Tặng Kiến trúc sư Tạ Minh Hải )
 
 Cả công trường chỉ có một mình em
 Như bông hoa giữa bạt ngàn sa mạc
 Khi em sang mọi người thêm náo nức
 Muốn hỏi thăm mà cửa đóng then cài.
 Người chung quanh vây kín khắp vòng ngoài
Đủ bốn màu da: đen nâu vàng trắng 
Em trong đó như bình minh ló rạng
 Chỉ trông qua hình dáng cũng được mà…
 Cả công trường chỉ có một bong hoa 

Trên ngàn người chỉ mình em khác giới
 Mấy tháng nay quay cuồng như muỗi đói 
 Khi em sang sáng chói cả bầu trời. 
 Thôi em đừng đi làm nữa em ơi 
 Ra công trường làm chi cho bụi bậm
 Em cứ ở nhà cho mọi người được ngắm 
 Việc phòng ban nhiều ít các anh lo. 
 Chỉ cần tươi như hoa nở giữa mùa 
 Làm đẹp Việt Nam ở xứ người Ả Rập 
 Các anh mong không gì khuất lấp
 Hết hợp đồng ta về lại cố hương… 

     Nói rằng chỉ mình em là nữ thì không khách quan. Trong một đoàn sang cũng có dăm ba người đi làm cấp dưỡng. Các bạn ấy chỉ cao tầm hơn thước rưỡi, da bánh mật, tóc tai ít được chăm sóc nhưng tốt tính,  không nề hà công việc nặng nhọc nào. Nhưng không thể coi đó là bông hoa vì nhan sắc có phần khiêm tốn. Trong con mắt đàn ông xuất ngoại, tiêu chuẩn đó là chưa đủ nên các lão thờ ơ. Tính chất công việc lại khác nhau. Các chị dậy làm việc từ sớm. đến tối về các chị lo tắm giặt, nghỉ ngơi là hết thời gian, ít khi có điều kiện gần gũi để làm quen tâm sự.
    
   Nhưng cuối cùng cũng đâu vào đấy cả…

Người xưa ơi

 ( Tặng Văn Đức Lợi )


Anh kể tôi nghe câu chuyện ngày xưa

Nét mặt bâng khuâng nhớ nhung khó tả

Vẫn tìm kiếm một bóng hình quen lạ

Một ước mơ vẫn cứ mãi đợi chờ.


Hai gia đình đã kết nối xe tơ

Quả cau lá trầu làm giầu câu chuyện

Cho hai trẻ quý yêu và thương mến

Để hai nhà thắm nghĩa thông gia.


Thời gian trôi tháng lại ngày qua

Người trai nhập trường, gái ở nhà chăm lo hợp tác

Dẫu chưa nắm tay, chưa một lần hôn trước

Trong mối tơ lòng vẫn dành trọn tình nhau.


Anh đã yêu và mãi muốn được yêu

Rời xa quê bao lần thư đi từ lại

Phút nông nổi của một thời con gái

Em đã xiêu lòng trước cám dỗ dèm pha.


Trả lại trầu cau hủy hôn ước hai nhà

Để sang sông với người con trai khác

Con tim thét gào mà không sao giữ được

Anh phải chôn vùi một mối tình riêng.


Mấy chục năm xa chỉ ao ước thiêng liêng

Chỉ mong sao gặp em lần cuối

Nhưng mơ ước ngày càng chới với

Dẫu xa mờ người có thấu cho chăng!...

Mẹ là ...

 

MẸ LÀ TẤT CẢ

Mẹ là dòng sông

Để con tắm mát

Mẹ là câu hát

Con nghe ầu ơ

Mẹ là bài thơ

Cho con tập đọc

Mẹ là dáng ngọc

Của cây mạ gầy

Trở thành hạt gạo

Con ăn mỗi ngày

Mẹ là vầng mây

Cho con áo mới

Con luôn mong đợi

Suốt đời mẹ vui

Ơi mẹ yêu ơi

Mẹ là tất cả…

Tháng 5

Tháng năm nắng
tháng năm mưa
sấm chui từ giữa mây trưa vào nhà
một lời gọi nắng đi ra
một lời gọi hạt mưa sa giữa đồng
Ùng oàng giữa trận mây giông
lại đi xa để mưa không kéo về.

Vải hồng chen chật bờ đê 
chợ quê, phố thị vải về theo chân
tháng năm cây lúa cong cần
cúi đầu chờ đợi về sân nhà mình.

giữa hè lúa chín vàng han 
nếp thơm hạt mẩy hạt lành bờ xôi
bậc thang lúa trải kín đồi 
vàng ươm chân ruộng
một trời hương quê...

 

CHÂN DUNG MỘT NHÀ THƠ TÀI HOA: 

NGUYỄN QUANG HUỆ






     Người làm thơ là những người có tâm hồn vô cùng nhạy cảm, trái tim họ rất dễ rung động trước cuộc đời. Trái tim đó có thể xao xuyến khi nghe một tiếng chim hót, một khúc nhạc buồn, khi trông thấy cảnh sắc thiên nhiên thay đổi. Bởi vì “Thơ phát khởi trong lòng người” nên cảm xúc trong thơ luôn là thức cảm xúc chân thật nhất, vui buồn yêu ghét rõ ràng. Cũng như lòng người có những cung bậc cảm xúc khác nhau tùy vào hoàn cảnh thì thơ cũng vậy. Có một nhà thơ đã sống trọn một đời thơ mộng đẹp đẽ, với những vần thơ trong trẻo, lắng đọng ân tình. Ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm thơ có giá trị. Không ai khác,đó chính là Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ - Kỹ sư xây dựng, nguyên Chủ tịch Diễn đàn văn học Nghệ thuật đường sắt và Xây dựng Việt Nam; hiện nay là Chủ tịch Diễn đàn Văn thơ Xây dựng Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Hà Nội và là cộng tác viên của Tạp chí Người Xây dựng.

Con đường sự nghiệp

Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ có bút danh là Quang Huệ sinh ngày 26 tháng 12 năm 1941 tại Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây không chỉ có thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ mà con người nơi đây vốn thật thà và rất tình cảm. Từ nhỏ, ông đã luôn mong muốn sau này trưởng thành có thể góp phần làm giàu đẹp cho quê hương đất nước. Cho đến khi lớn lên, rồi tốt nghiệp đại học với tấm bằng kỹ sư xây dựng thì ông chính thức đã chạm đến ước mơ của mình. Với vai trò là một kỹ sư thiết kế và xây dựng, nhà thơ Nguyễn Quang Huệ đã tham gia công tác tại nhiều vị trí khác nhau: Kỹ thiết kế công tác tại Viện Thiết kế Dân dụng - Bộ Xây Dựng (từ 1962 đến 1980). Vào năm 1981, ông được Bộ Trưởng Đồng Sỹ Nguyên bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Xí nghiệp và biệt phái tại công trường Nhiệt Điện Phả Lại, sau đó là Giám Đốc Trung tâm Kinh tế Kỹ thuật Xây Dựng. Thời điểm từ năm 1988 đến 1990, ông được trao nhiệm vụ đi I-RAQ hợp tác lao động và về Tổng Công Ty - VINACONEX làm Trưởng phòng Kế hoạch kỹ thuật Quản lý dự án công ty VINACONEX 6. Đến năm 2003 thì ông được nghỉ hưu theo chế độ. Trong suốt quá trình công tác của mình, ông đã tham gia thiết kế và xây dựng nhiều công trình quan trọng của Nhà nước như: Lăng Bác Hồ, Nhà khách Chính phủ, Trung tâm báo chí Quốc tế, Học Viện Hành chính Quốc gia, Nhà máy điện Phả Lại…

Duyên nợ với thơ ca

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết về ông: “Nguyễn Quang Huệ làm thơ từ khi còn là sinh viên, nhưng công việc của một kỹ sư xây dựng đã cuốn ông đi, mãi đến khi nghỉ hưu, ông mới chợt nhớ tới nàng thơ thời trẻ mình đã từng say đắm. Và, tiếng gõ cửa của nàng thơ đã lại đánh thức trái tim nhạy cảm của ông thêm lần nữa. Với vai trò là một nhà thơ ông đã gây ấn tượng đặc biệt với độc giả của mình qua những tác phẩm có giá trị văn học nghệ thuật”.


 


                              Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ trả lời phỏng vấn VOV TV


Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ tại Sapa


Có thể thấy rằng, thơ ca khơi dậy trong con người những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, “thanh lọc” tâm hồn con người, chắp cánh
  cho con người bay tới những ước mơ, khát vọng. Tn i hành trình i đằng đẵng đầy chông gai của đời người, có những lúc dừng chân ngơi nghỉ , ta không thể không nghĩ về cuộc đời, v những điều tốt đẹp. Là một người sống xa quê nên trong ông cũng đầy những m tư chất chứa, đã từng có i thơ v ch đề xa quê, mặc dù không viết cho mình nhưng  có lẽ những vần thơ như thế đã nói hộ lòng ông phần nào. Ông luôn giữ cho mình tình yêu và hồn cốt của quê hương. Giống như những điều ông đã mong mỏi từ ấu thơ, vì vậy sự tâm huyết trong ông đã luôn để trong tư thế sẵn sàng đóng góp công sức, trí tuệ của mình cho quê hương giàu đẹp. Chính vì vậy,  ông  đã nhận được sự yêu mến từ mọi người xung quanh. Trong cuộc sống hàng ngày, với những hình ảnh xưa cũ trong căn nhà cha mẹ để lại, ngôi vườn và những kỷ vật. Tất cả để lại trong ông những ký ức, để ông viết nên những vần thơ với đầy chan chứa cảm xúc của một tâm hồn dễ rung động:


Ra đi từ lũy tre làng


trai quê lên phố đa mang cuốc cày


 từ ngày xa ruộng đến nay


tay chai đã lặn để thay bút cầm

 

Sáo diều xa vắng bao năm?


bờ xôi ruộng mật đã nằm vào tranh


                                             tưởng quê là mảnh đất lành 


nào ngờ lên phố ẩn danh cả đời...

 

Thôi rồi từ thuở nằm  nôi 

Chờ cho đến hẹn đáo hồi về quê...

Người kỹ sư xây dựng với niềm tin, lý tưởng và tình yêu đã viết nên những câu thơ tình say mê đắm như thế này:


“Em muốn làm dòng sông 


Cho thuyền anh xuôi ngược 


Nâng niu trên mỗi bước 


Những bến bờ anh qua.

 

Em muốn là nhành hoa 


Tỏa hương thơm dìu dịu 


Khi mặt trời soi chiếu 


Vào những buổi oi nồng.

 

Em muốn là thinh không 


Cho lòng anh tĩnh lặng 


Vượt qua bao cay đắng 


Những bước chân xa vời.

 

Nhưng không được anh ơi 


Bởi em đâu là gió


Đâu dòng sông ngọn cỏ


Là hoa là thinh không?

 

Nhưng thương anh mặn nồng

 

Như lòng em vẫn ước


Dù anh không nhận được 


Vẫn một lòng bên anh...


Tranh phác họa

Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

Có ai có thể nghĩ những dòng thơ kia lại là của một nhà thơ xuất thân từ một Kỹ sư  xây dựng. Người ta vẫn thường nói người xây dựng khô khan lắm, ấy vậy mà những vẫn   thơ của ông lại điệu nghệ và tình cảm đến lạ thường. Không biết có phải càng gắn bó với công việc thì tâm hồn người nghệ sĩ càng trở nên thăng hoa bay bổng để viết nên những vần thơ giàu cảm xúc hơn không. Nhưng tình yêu là một đề tài đã góp phần làm nên cho nhà  thơ Nguyễn Quang Huệ một thành công với sự nghiệp thơ văn của mình.

Đó là  những câu thơ được viết lên bởi một hồn thơ mộc mạc, dung dị mà sâu sắc tinh tế của nhà thơ xứ Nghệ - Nguyễn Quang Huệ. Có lẽ bất kỳ ai xa xứ khi đọc những câu thơ trên cũng thấy nhớ quê đến nao lòng. Chợ quê là bức tranh đời sông văn hóa của một vùng đất, chợ họp thường đem lại không khí đông vui làm nao nức lòng người trong cảm giác gần gũi, thân quen.

CHỢ QUÊ

Chợ quê họp ở đầu làng


Bên dòng sông nhỏ, bên đàng liên thôn 


Rổ rau mẹt cá mớ tôm


Đôi ba hàng thịt dăm con lợn gà 


Vài ba chục trứng bày ra


Trước là gặp bạn sau là đổi trao

 

Tiền nhiều mặc những đâu đâu 


Chợ quê góp nhặt lá trầu quả cau 


Cảnh quê nghèo túng có nhau 


Không đi nhớ bạn nhớ bầu lại đi.


Chợ tan hàng chẳng còn gì  


Tình thêm mấy đận chờ kỳ họp sau...




BA BẬC THỀM NHÀ


Thân thương ba bậc thềm nhà 


Đi vào bao lượt đi ra bao lần 


Mỗi ngày dăm chục bước chân


Hết lên lại xuống ngay sân nhà mình.

 

Ung dung như chốn cung đình 


Nhà mình mình ở thềm mình mình đi


Đậu nghè bái tổ vinh quy 


Cũng từ chập chững cô dì đỡ nâng.

 

Từ sĩ tốt đến quân vương


Nào ai quên lúc náu nương thềm nhà 


Ngàn đời từ thuở ông cha


Lớn khôn khờ dại từ ba bậc thềm...

 

     Với ông, dù đi đâu, về đâu thì hai tiếng “quê hương” thiêng liêng luôn vang vọng trong tâm khảm nhà thơ. Trong suốt chặng đường mấy mươi xuân đời, dù sống nơi thành thị tấp nập người xe song chưa bao giờ Quang Huệ quên những kỷ niệm tuổi thơ nơi quê nhà. Bài thơ đã làm lay động lòng người bởi chắc rằng nếu ai đã đọc bài thơ trên đều sẽ có những phút lắng lòng để nghĩ suy và chiêm nghiệm về giá trị đích thực của cuộc sống.

     Là một nhà thơ hiện đại của Việt Nam, trên 20 năm nay ông đã xuất bản 10 tập thơ (950 bài thơ) và 1 tập tản văn: Dòng sông ký ức (Tập thơ - NXB Hội Nhà Văn); Cánh én mùa xuân (Tập thơ - NXB Hội Nhà Văn); Chợ quê (Tập thơ NXB Văn Học); Ba bậc thềm nhà (Tập thơ NXB Văn Học) và một tập tản văn Ra ngõ mà trông (NXB Hội Nhà Văn). Trong đó, ông đã ra mắt bạn đọc 5 tập thơ viết cho thiếu nhi: Gà mẹ gà con (Tập thơ thiếu nhi - NXB Thanh Niên); Chuyện gấu và mèo (Tập thơ thiếu nhi NXB Thanh Niên); trắng - đen (Tập thơ thiếu nhi NXB Thanh Niên); Công chúa Ếch (Thơ thiếu nhi NXB Văn Học); Bắc cầu vồng (Tập thơ thiếu nhi chọn lọc NXB Hội Nhà Văn). Ngoài ra, ông cho biết thêm trong thời gian tới sẽ ra mắt bạn đọc một số tác phẩm: Ra ngõ trông (Tản văn tập 2); Cửa khép hờ (Thơ) và Tuyển tập thơ Nguyễn Quang Huệ, tuyển tập "TÌNH YÊU và NỖI NHỚ".

     Bên cạnh những tác phẩm trên,nhà thơ Nguyễn Quang Huệ còn là một trong những gương mặt tiêu biểu được lựa chọn giới thiệu trong nhiều sách, báo như: Chân dung tác giả và tác phẩm văn học (NXB Hội Nhà Văn); Gương sáng - Chí bền (NXB Văn Hóa Dân Tộc và ông có nhiều bài thơ được in trong Tạp chí Người Xây Dựng.

     Ông còn vinh dự là khách mời của nhiều chương trình truyền hình về lĩnh vực thi ca như năm 2012 tham gia chương trình CLB Người yêu thơ của đài THVN; năm 2013 Đài Truyền Hình Hà Nội làm phóng sự với chủ  đề Nguyễn Quang Huệ - Hai trong một: Thơ thiếu nhi và thơ tình; năm 2014, ông là Đại biểu và là nhân vật trong phim truyền hình “Tiếng thơ vọng mãi” do VOV- TV, Viện Nghiên cứu nhân tài - nhân lực và Thi đàn VN đồng tổ chức; năm 2015 ông tham gia Chương trình “Người yêu nghệ thuật” của VOV- TV Đài Tiếng nói VN: Giới thiệu về thơ Nguyễn Quang Huệ; năm 2016 VOV- TV làm phóng sự với chủ đề: “Nguyễn Quang Huệ - Những công trình và những vần thơ”;…

     Với những đóng góp tích cực của mình, ông đã vinh dự được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Giải B (thơ) của Đoàn các cơ quan Trung ương (1965); Giải thưởng tác phẩm xuất sắc với tập thơ “Công Chúa Ếch” (2015) do Trung tâm Văn hóa Hội NCT Việt Nam bình chọn; Giải khuyến khích cuộc thi thơ toàn quốc “Tuổi cao - Gương sáng - Chí bền” do Thi Đàn Việt thuộc TTVH Hội Người Cao tuổi VN và Văn phòng sách và Tri thức Việt tổ chức (2016); tuyệt vời hơn là trang thơ Nguyễn Quang Huệ đã có trên 162.000 lượt người mở xem trang, đó là niềm hạnh phúc vô bờ đối với một nhà thơ như ông.

Gia đình Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ

     


Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ đến thăm cố Nhạc sĩ, 

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo


   Tự hào và hạnh phúc với những điều mình đã gặt hái được trong cả hai lĩnh vực : Xây dựng và thơ ca Nhà thơ Nguyễn Quang Huệ đã thực hiện được giấc mơ của bản thân là làm những điều thiết thực nhất để xây dựng đất nước và làm giàu cho đất nước. Trong nhiều năm qua, người kỹ sư ấy không chỉ có những đóng góp vật chất với những công trình lớn của đất nước mà còn là cả một kho tàng văn hóa lớn lao được bồi đắp bằng trái tim nhiệt thành của người con xứ Nghệ. 
Xin chúc ông sức khỏe để tiếp tục có nhiều bước tiến dài hơn nữa trên con đường thơ ca của mình!










lăng mộ đá toyota thanh hóa