Buổi sáng

Từ mờ sáng
Tiếng gà canh ba treo trên ngọn tre
Chuông nhà thờ lan theo làn gió
Từ đầu ga, cuối phố
Mẹ xuống giường
Tìm ánh lửa sầu đông.

Rổ rau thơm
Cây giống chờ qua đêm dông
Ngái ngủ
Vẫn im lìm trong rổ
Chân mẹ gầy bơi trong bão tố
Gánh gồng niềm hy vọng vu vơ
Đi chợ sáng kịp phiên
Các bạn đang chờ
Mong cho mua may bán đắt
Để trưa về
Có thêm tấm bánh đồng quà
Cho những đứa con thơ bé ở nhà
Chờ mẹ...


Kết quả hình ảnh cho gà gáy

Chiều về

Vạt nắng chiều trên hoàng hôn tím đỏ
Con trâu cày mơ ước được mở vai
Bố dừng lại nhìn qua từng lát úp
Đất dưới chân lật sấp những hàng dài.

Manh áo cha mốc trắng giọt mồ hôi
Chân đã mỏi thì thầm bên bờ ruộng
Trâu ghé lưng cùng ta leo năm tháng
Cố gặm đi những đốm cỏ bên đường.

Con trâu cày là bạn nhà nông
Ta với ngươi cũng là bạn đấy
Chốc về nhà gánh cỏ non mời gọi
Thưởng cho ngươi khó nhọc suốt trời chiều...



Kết quả hình ảnh cho cày ruộng

Sẽ đến một ngày

( Viết nhân dịpTrang thơ đã có trên 150 ngàn lượt người mở xem )

Sẽ đến một ngày mấy trăm ngàn lượt người
mở trang thơ ra đọc
Món quà riêng dành tặng cho mình
Sẽ có ngày nhiều hơn thế nữa
Lộc vào nhà mang màu nắng tươi xinh.

Mỗi một ngày qua bao người gõ cửa
Đón trang thơ e ấp mời chào
Dòng tâm tình như con khát sữa
Với vui buồn tựa ánh trăng sao.

Sẽ đến một ngày nửa triệu người qua
Xem những vần thơ - xem cây chờ nắng
Hoa nở, đài rung hương nhụy bay xa
Hương ngào ngạt cùng hoa dâng tặng...

Kết quả hình ảnh cho hoa hồng đẹp


Sau hơn 3 năm Thi Đàn VN mở giúp Trang thơ Nguyễn Quang Huệ, ngày 2 tháng 9 - 2017 đã có trên  150 ngàn lượt người mở xem. Dây là sự trùng hợp ngẫu nhiên đạt con số 150 ngàn lượt vào đúng ngày 2 tháng 9 - 2017. Món quà quý của người yêu thơ trong nước và nước ngoài dành cho, tôi vô cùng xúc động. Tôi chân thành cảm ơn bạn yêu thơ khắp vùng miền trên cả nước, và xin hứa với các bạn sẽ cố gắng để đáp lại sự thịnh tình của các bạn.

Thơ Trần Chấn Uy

GỬI NGƯỜI KHÔNG QUEN
Gió lạnh, mắt chiều, một người xa vạn dặm
Nghe mưa về từ nẻo hoàng hôn.
Màu oải hương, thương một thời xa lắm
Áo phù vân giã biệt tháng năm buồn .
Sao cứ nhớ một nỗi gì ngoài vô tận
Hận trái tim mình nông nỗi đến vô duyên .
Thắp ngọn đèn khuya, thức cùng đêm trắng
Rót chén lòng uống cạn với tàn canh.
Thôi thì, xin gửi lại màu hoa thương nhớ ấy
Về chốn xưa, mưa nắng cõi người
Đành buông bỏ nỗi niềm ngoài mong đợi
Áo mù sa, hoa tím lạnh bên trời !
Mùa hạ buồn 2017
TRẦN CHẤN UY
.

Khát khao

( Đọc bài thơ này ai cũng thấy mình trong đó )

Sao ta lại xa nhau để cả đời chịu khát?
Dù quanh ta vẫn có nước trong lành
Sao ta lại buông lơi giấc mộng
Để ngàn ngày nuối tiếc tuổi xuân xanh!

Kỷ niệm ngọt ngào đâu thể quên nhanh
Những nỗi nhớ nhung không bao giờ dứt
Để tình ta vẫn mãi là ký ức
Sâu thẳm mơ màng hóa đá những vần thơ.

Chưa một lần tan chảy trong mơ
Chưa một lần ong bay bướm lượn
Nhưng vẫn mang theo một đời lận đận
Phút giây nào ta lại có nhau?...

Kết quả hình ảnh cho nhớ tình xưa

Tiếng nổ đầu tiêncủa Làng Hiệu Thượng

        ( Hồi ký của Nguyễn Quang Huệ )

    Tôi không rõ lắm sau c/m tháng 8 – 1945 Làng Hiệu Thượng đã khai hỏa chưa. Tôi chỉ biết rằng dân quân tự vệ làng mình lúc ấy chỉ có gậy tre và mấy ngọn giáo sắt. Một vài người có đại đao như ông Nguyễn Khả, cung nỏ như ông Nguyễn Hữu Thái, ông Bùi Hồng là cùng, không thấy có súng trường và lựu đạn.
    Những năm đầu xây dựng lực lượng vũ trang ở làng ta là đã tổ chức được một đại đội dân quân tự vệ khoảng trên dưới 90 người. Nhân ngày kỷ niệm tết độc lập năm 1947 Làng Hiệu Thượng tổ chức cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập và lễ ra mắt đại đội dân quân tự vệ của làng...
    Mỗi tiểu đội biên chế 10 người, mỗi trung đội có 3 tiểu đội. Mỗi đại đội có 3 trung đội. Các đại biểu của xã Hạnh Viên và các đoàn thể của thôn ngồi ghế trong Đình Làng. Đại đội tự vệ xếp hàng ngay ngắn ngay sân đình theo từng tiểu đội, trung đội. Nhân dân dự lễ đứng chung quanh và tràn ra ngoài đường về phía đông cạnh vườn cố Mẫn, vườn Bà Hào. Đình làng cũ to rộng, mái lợp ngói âm dương. Cột gỗ to. Chân cột kê bằng những viên đá tảng có hoa văn. Ba gian giữa của đình rộng rãi, hai bán mái vát nghiêng hai bên. Kèo bán mái, mỗi bên đóng 2 con giơi chạm khắc bằng gỗ đang sải cánh bay, trông rất giống loại giơi quạ mà TV vẫn chiếu trên màn hình bây giờ.
    Nhân kỷ niệm tết độc lập, làng quyết định cho nổ một quả lựu đạn chào mừng, mở đầu một thời kỳ mới, cho cuộc kháng chiến ở quê nhà. Người được giao nhiệm vụ ném quả đạn  mỏ vịt ấy là ông Tăng Tấn. Lúc đó ông Tấn trên hai mươi lăm tuổi, trẻ khỏe, dũng cảm, am hiểu bắn súng và ném lựu đạn. Tôi cũng không biết ông ấy đã được huấn luyện ở đâu và từ bao giờ nhưng lúc ấy được giao nhiệm vụ quan trọng như vậy là vinh dự lắm. Ông Tấn rất tự tin sẽ ném quả lựu đạn trúng đích và thành công.
    Mục tiêu là cho quả đạn phải trúng giữa bụi tre ở góc vườn nhà ông ấy. Nếu được như vậy, mảnh đạn không bắn ra ngoài, bị bụi tre che chắn hết, hạn chế rủi ro có thể xẩy ra. Khoảng cách từ tường bao mép đình tới bụi tre phải qua sân đình , qua ruộng mạ nhà cụ Hoán. Tổng cộng dài khoảng hơn 20 mét. Chung quanh đình và sân đình đã có tường hoa xây bằng những viên sò, cao khoảng trên một mét. Ông Tấn đã chuẩn bị sẵn sàng thực thi nhiệm vụ…
    Sau khi phổ biến cho mọi người tìm chỗ khuất, ngồi thấp sao cho tường hoa của sân đình che lấp để tránh mảnh vỡ của quả lựu đạn, các đội viên dân quân phải nằm xuống sau khi có lệnh. Mấy phút chuẩn bị căng thẳng, nín thở, chờ đợi. Kiểm tra một lượt thấy đã ổn, Người chỉ huy hô khẩu lệnh:
- Đại đội nghiêm, nằm xuống theo một góc lệch sang phải. Thế là cả đại đội dân quân nằm rạp xuống sân đình, đều tăm tắp.
Khẩu lệnh hô tiếp:
- Phút chuẩn bị bắt đầu:
- Ném. Ông Tấn bước chân trái lên, chân phải giữ nguyên, vươn tay phải ra sau, đập hạt nổ vào tường bao đình làng và dang tay ném quả đạn vào bụi tre như đã định rồi nằm xuống như người nằm bắn. Chỉ ba hoặc bốn giây sau khi ném, một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Mọi người thở phào, trở lại phút ban đầu, mặt mày rạng rỡ vui cười hiện trên nét mặt. Không chờ khẩu lệnh đứng dậy của chỉ huy. May mắn làm sao quả đạn không vướng cây tre nào mà chui lọt vào giữa bụi. Sự chọn lựa của tập thể giao nhiệm vụ ấy cho ông Tấn là rất chính xác...

    Đại đội tự vệ trở lại đội ngũ xếp hàng ngay ngắn. Đại diện chính quyền biểu dương lực lượng và căn dặn mấy điều. Sau đó tự vệ ở lại. Dân chúng ra về trong niềm hân hoan khó tả.
    Lúc ấy tôi tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã đứng sát chỗ ông Tấn xem ông ấy thực hiện như thế nào, nên nhớ rất rõ những động tác của người vệ sĩ năm xưa. Chứng kiến bao điều mới mẻ của làng ta trong những ngày đầu của cuộc k/c chống Pháp ở quê mình.
    Tiếng nổ đó như một hiệu lệnh, mở đầu sang giai đoạn trường kỳ kháng chiến của làng ta, hưởng ứng theo lời kêu gọi “Toàn Quốc Kháng Chiến” của Cụ Hồ. Từng đợt thanh niên của làng hăng hái tòng quân nhập ngũ. Người ở lại tập luyện đều đặn mỗi tuần, bà con nông dân hăng say sản xuất, chi viện cho chiến trường đánh giặc…


Hà Nội tháng 8 năm 2017

Mưa đêm

Rào rào mưa rải mái tôn
Bóng đen ập đến đầu thôn ngỏ lời
Tai nghe cơn gió rong chơi
Rủ rê cả trận mưa rơi ào ào.

Nhập nhoằng chớp lóe tìm sao
Chị Hằng run sợ trốn vào mây đen
Ầm Ầm mưa gió một phen
Qua cơn giận - Mặt lại hiền như không.
Để người đón giải hừng Đông
Mặt trời chứng kiến trên đồng đã mưa...


Kết quả hình ảnh cho mưa đêm

Thăm nghĩa trang dòng Họ

Rằm tháng giêng về quê giỗ Họ
Thăm nghĩa trang
Nơi tập trung mười đời bia mộ
Hoa đại nở từng chùm
Chín rộ buông tay
Hương đại thơm quấn quýt bên người
Cánh hoa phảng phất
Nhắc lời Tổ Tiên.

Từng hàng
Mộ chí ngồi thiền
Nghe trong cát bụi
Ở miền quê hương
Nguyên tiêu con cháu tìm đường
Về quê giỗ Tổ cội nguồn ơn sâu
Dù đường xa ngái đến đâu
Gắng về thăm viếng rượu trầu cúng dâng...

 Kết quả hình ảnh cho hoa đại trắng

Nhớ quê

Trông bãi ngô xanh tôi lại nhớ quê
Mùa no ấm sắp về bên xóm nhỏ
Nhớ ngày xưa thuở chăn trâu cắt cỏ
Tắm nước ao làng mát lạnh cả hàng cau.

Nắng tháng ba hoa lạc nở vàng au
Chui xuống đất để kết thành quả quý
Đã bao đời đất quê ta vẫn thế
Đón mùa xuân hoa trái cũng theo về...

Kết quả hình ảnh cho mùa lạc




Thơ Hoàn Nguyễn


.Đêm, hai người phụ nữ nói chuyện với nhau.
Những dòng tâm trạng buồn, nỗi buồn của hai người đàn bà làm thơ, trót đa sầu, đa cảm... Tôi biết ở phía đầu kia có "giọt sương lăn trên mi mắt em", bởi tôi cũng vậy.😢
Và tôi viết bài thơ này cho em, cả cho tôi nữa!
MỘT NÀY KHÓC - MỘT NÀY CƯỜI
(viết cho Nga)
Em ngồi đốt vía thời gian
Đuổi hình tìm bóng cho tàn một đêm
Ngậm ngùi
uống giọt sương êm
Tình tình
rây ướt
say mềm lả lơi
Say
chơi vơi
say
chơi vơi
Một này khóc
một này cười
ngất ngư
Trầm luân
chìm nổi còn dư
Tố Như ơi
hỡi Tố Như hồn về
Bừng bừng thức tỉnh cơn mê
Ngủ đi quên giấc tái tê cõi người...!


Trong hình ảnh có thể có: cây, đêm, bầu trời, ngoài trời, nước và thiên nhiên

Những người con trai Họ Phạm

    Làng Hiệu Thượng quê tôi ( xã Diễn Hạnh, Diễn Châu, Nghệ An ) có một dòng họ mà người dân các dòng họ khác nhìn vào với một tình cảm mến yêu và kính nể.
    Nói về các họ trong làng thì nhiều: Họ Tăng, Họ Trần, Họ Ân, Họ Bùi, Họ Hoàng, Họ Nguyễn, Họ Trình, Họ Phan, Họ Hồ, Họ Đường v/v… Nhưng nổi nhất vẫn là Họ Phạm.
    Họ Phạm có số hộ nhiều nhất so với các họ trong làng. Trong kc chống Pháp, những người con trai họ Phạm xung phong nhập ngũ, thoát ly làm cán bộ, công nhân viên nhà nước cũng đông nhất. Người dân Họ Phạm vẫn giữ được truyền thống đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, đời sống vật chất trong các thành viên sàn sàn như nhau, không có người quá giàu cũng không có người quá nghèo, Mức sống chung hơn hẳn các dòng họ khác. Con em Họ Phạm được chăm sóc tốt hơn, việc học hành của con cháu được khuyến khích và chăm lo chu đáo.
    Tôi nhớ những năm 1955-1958 khi cả huyện không có trường cấp III, chỉ có một trường cấp II công lập Nguyễn Xuân Ôn, cụ Phạm Độ đã phải bán đi 2 gian nhà ngói để mua xe đạp cho anh Phạm Thanh Hải đi học. Khi học trường Huỳnh Thúc Kháng cũng phải bán trâu và cầm cố một vài thứ có giá trị để anh ấy vào TP Vinh học tiếp cấp III. Trong khi đó con em các họ khác vẫn cố gắng đi bộ đến trường huyện học hết cấp II rồi đi học các trường trung cấp chuyên nghiệp.
     Cụ Phạm sỹ là một trưởng họ tuyệt vời, hiếm có. Tính tình cụ lúc nào cũng hòa nhã, nhẹ nhàng, không tư lợi một điều gì, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Cụ rất có uy tín với bà con trong họ và trong làng. Các cuộc họp của xóm thường ở nhà cụ. Cụ bà chịu khó nấu nước, hôm nào họp cũng nấu một nồi to đầy nước chè xanh. Thôi thì cả người lớn và trẻ con như chúng tôi, mùa hè uống nước như rồng, vậy mà hai cụ cũng chẳng phàn nàn kêu ca gì. Cụ Phạm Sỹ là trung tâm đoàn kết của cả họ và những người dân họ khác của quê nhà. Họ Phạm tự hào có cụ trưởng họ xuất sắc. Sau ngày cụ mất, các ông Phạm Bá Luận rồi ông Phạm Hiệu… thay nhau làm trưởng họ đã phát huy được truyền thống gia đình của Cụ Phạm Sỹ.
    Những người con trai họ Phạm hăng hái tham gia kháng chiến rất sớm như Cụ Phạm Bồi, Phạm Độ, Cụ Phạm Lộc, Phạm Năm, Phạm Sâm. Cụ Phạm Nhã là quân nhân chống Pháp, là một thương binh. Con trai cụ tiếp bước lên đường chống Mỹ, nhưng trong chiến đấu anh đã hy sinh ở chiến trường Miền Nam, Đó là liệt sĩ Phạm xuân Hương.  Đúng là “ Lớp cha trước, Lớp con sau – Đã thành đồng chí chung câu quân hành”.
    Cụ Phạm Tám là cán bộ huyện. Năm 1958 cụ được điều động đi xây dựng khu tự trị Thái Mèo ở Sơn La, làm việc ở Văn Phòng khu ủy. Năm 50 tuổi cụ là Phó Hiệu trưởng trường Trung cấp Y- Dược của tỉnh. Cụ Phạm Chín tham gia quân đội chống Pháp. Cụ là thương binh hạng đặc biệt, được trở lại quê hương xây dựng gia đình. Nhưng lúc vết thương tái phát, người nhà đưa cụ đi bệnh viện nhưng không kịp, cụ trút hơi thở cuối cùng trên đường đi… Đến lớp sau có các ông Phạm Bá Luận, Phạm Sinh, Phạm Dương… Lớp sau nữa như các ông Phạm Đình Văn, Phạm Đình Tựu, Phạm Bá Tân là những cán bộ quan trọng của đia phương mấy chục năm nay. Phạm Thanh Hải, là nhà giáo của một huyện miền núi của Nghệ An. Phạm Thâm, quân nhân, Phạm Thục Lựu, cán bộ ngành nông nghiệp, Phạm Xuân Chư, là thương binh, rồi Phạm Bằng , Phạm Hữu là 2 anh em ruột đều là thương binh. Phạm Hồng là nhà giáo xuất sắc, Phạm Hoa là Phó Trưởng ban tín dụng Ngân Hàng Nông nghiêp Trung Ương, Phạm Trung là Tiến sĩ, Đại tá Công An, Phạm xuân Dương là Chủ Tịch rồi Bí thư Đảng ủy xã Diễn Hạnh, Phạm Đức Cường là Chủ Tịch Liên đoàn Lao đông Diễn Châu, Phạm Đường là bệnh binh Chất độc da cam và còn nhiều người nữa mà tôi không biết hết. Số con em đi bộ đội rất nhiều. Cả làng có 22 liệt sĩ thì họ Phạm đã có tới 6 người ra đi không trở lại quê nhà như các liệt sĩ: Phạm Điệng, Phạm văn Tình, Phạm Xuân Hương, Phạm Huy, Phạm Văn Đông, Phạm Bá Hợi. Một Bà mẹ VN Anh Hùng có 2 con liệt sĩ là bà Phạm Thị Thất. Hiệu Thượng có 24 thương bệnh binh thì riêng Họ Phạm đã có 9 người...
    Có một điều đáng quý là bà con họ Phạm không bao giờ phân biệt cư xử người trong họ với bà con các họ khác. Không bao giờ tranh chấp cán bộ họ này với họ kia. Mối tình đoàn kết giúp đỡ nhau trong tình làng xóm, láng giềng thân thiết và luôn tự hào mình là người dân của Làng Hiệu Thượng. Mỗi lần giỗ Họ là một lần gặp lại nhau, tình cảm chan chứa thương yêu họ mạc. Mỗi gia đình làm một mâm cỗ đưa đến nhà thờ cúng họ, ăn chung. Nhà thờ Họ Phạm to nhất làng, lại sát đường lớn, rộng rãi,  càng thấy rõ sự huyên náo, vui vẻ trên khuôn mặt mỗi người. Tôi được biết nhà thờ Họ Phạm được đề nghị tỉnh Nghệ An cấp bằng công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh.
    Tôi nhớ các ông Phạm Năm, Phạm Tám… tuy thoát ly làm việc ở nơi khác, nhưng mỗi bận về qua nhà đều đi thăm hỏi các gia đình trong làng, thân tình, gần gũi như những người thân yêu của mình.

    Những người con trai Họ Phạm thật xứng đáng với Tổ Tiên, làng xóm và quê hương đất nước. Thật hiếm có một dòng họ nào có đủ tiêu chí Dòng Họ có truyền thống, nhân văn và vẻ vang như Họ Phạm quê tôi…

           NQH
          Hà Nội ngày 26 tháng 7 năm 2017
         ( Bài viết đã được bổ sung và chỉnh sửa )


Thơ Hà Quang

Nhà thơ, Nhà báo Hà Quang hiện nay là chánh văn phòng Hội Thủy lợi VN
Phó Tổng biên tập Tạp chí Tài nguyên nước, nguyên là chiến sĩ sư đoàn 305.
Trong buổi gặp mặt các gia đình liệt sĩ và thương binh của khu dân cư, nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày TBLS, ông tặng tôi bài thơ này. Tôi cho đăng lên đây chia sẻ cùng bạn đọc.

HOA DÀNH DÀNH

Hoa dành dành nở bên bờ ao
Dáng e ấp như người con gái
Nhớ ngày anh lên đường ra trận
Những cánh hoa thấp thoáng nắng chiều.
*
Mỗi mùa hoa nói hộ bao điều
Mỗi cánh hoa gợi bao nỗi nhớ
Dành dành ơi, sao mà thầm kín thế!
Chỉ mình em lặng lẽ với hoa thôi.
*
Anh đi xa, bao ngày anh đi xa
Hoa vẫn nở bên bờ ao trước ngõ
Em vẫn đợi một khoảng trời lặng gió
Đón anh về vai áo rắc đầy hoa...
*
Anh đi xa , anh đã đi thật xa!
Tuổi thanh xuân, nơi chiến trường gửi lại
Dẫu biết vậy mà em vẫn đợi
Bởi mùa hoa đâu dễ lãng quên!...

Cuộc đời mặn chát của một bà mẹ VN Anh Hùng

  ( Chuyện về bà Nguyễn Thị Thoan, mẹ liệt sĩ Nguyễn Phượng )

   Sau mấy chục năm qua đời, bà mới được nhận sự tôn vinh của nhà nước: Mẹ VN Anh Hùng.
   Nhà nước và nhân dân biết ơn bà. Những nén hương, cây nến thắp lên bái tạ bà, muộn mằn nhưng trang trọng từ tấm lòng thành kính của chính quyền và mọi người dân quê nhà.
   Những người con quê hương kính dâng bà tấm lòng biết ơn bà đã sinh ra người con trai duy nhất đã hiến dâng đời mình cho Tổ Quốc. Đó là liệt sĩ Nguyễn Phượng.
   Bà tên là Nguyễn Thị Thoan ở làng Hiệu Thượng, xã Diễn Hạnh, huyện Diễn Châu, Nghệ An.
   Thuở mười tám đôi mươi, bà về nhà chồng là người cùng thôn. Gia cảnh nhà chồng cũng có bát ăn bát để, chỉ hiềm một nỗi anh em chú bác hiếm hoi nên không có chị em dâu, một mình bà lo toan gánh vác công việc nhà chồng. Cuộc đời bà vất vả vô cùng. Bố mẹ chồng mất sớm. Khi con trai bà chưa trưởng thành, chồng bà lại qua đời, để lại bà mẹ góa con côi. Bà ở vậy nuôi con. Mẹ con quấn túm lấy nhau sống tạm đủ qua ngày, cuộc sống chẳng có gì gọi là sung túc. Tài sản ông bà để lại là ngôi nhà thờ lợp ngói 4 gian, một ngôi nhà bếp lợp tranh thưng cót tuềnh toàng, gần hai sào vườn và vài thửa ruộng ngoài đồng. Do thiếu sức lao động nên vườn tược cứ để cây dại mọc hoang, tre pheo phủ bóng, rậm rạp. Chung quanh vườn lại là chỗ trũng nước nên đến mùa mưa bão nước ngập đến mấy tháng mới cạn. Ễnh ương, cóc nhái, chẫu chuộc, côn trùng tha hồ kêu vang trời mỗi mùa mưa đến. Khu vườn tối tăm ẩm thấp. Ai đi qua khu vườn ấy vào ban đêm đều ái ngại do vắng vẻ, đom đóm bay ra dày đặc lại thiếu bóng người. Chỉ dăm ba luống sát sân là trồng cấy được nắm rau, bụi mía, thu hoạch chẳng đáng là bao. Tuy vậy với hai mẹ con không đến nỗi ăn bữa nay, lo bữa mai như nhiều gia đình nghèo trong thôn ít ruộng vườn phải bươn trải qua ngày. Cũng do neo đơn vất vả nên bà bị gù lưng lúc ngoài 40 tuổi, mọi công việc đồng áng gánh vác rất trở ngại khó khăn đối với bà…
   Anh Nguyễn Phượng lớn lên trong tình yêu thương của mẹ, ngày càng khỏe mạnh, đẹp trai, trắng trẻo, rất thư sinh. Anh tham gia đoàn Thanh niên cứu quốc và dân quân tự vệ ở địa phương rất tích cực.
   Bà cưới vợ cho anh đã mấy năm, chưa có cháu, con dâu cũng ở cùng thôn. Tuy vậy, anh vẫn xung phong nhập ngũ. Mấy năm sau anh được ra quân. Do hoàn cảnh chỉ có hai mẹ con. Cảnh mẹ chồng nàng dâu lâu ngày chuyện va chạm là tất nhiên khó tránh nên bà cho anh chị ở riêng ngay từ lúc anh chưa đi bộ đội. Anh ra đi, chị vợ ở nhà cũng chẳng giúp gì đỡ đần cho bà nên bà chỉ một mình một bóng, tự bà xoay xở, sống trong cảnh cô đơn không người nương tựa….
   Đời bà tăm tối nhất là những năm cải cách ruộng đất. Người ta chỉ trông thấy bà có nhà ngói, có trâu cày, có ruộng đất, thỉnh thoảng lại nhờ người bà con làm giúp việc đồng áng khi mùa màng bận rộn như cày cấy hoặc thu hoạch mà quy bà thành phần địa chủ. Mặc dù bà không thừa ruộng để phát canh thu tô, không cho vay nặng lãi như những người khác. Bà bị bắt, bị đấu tố, bị đả đảo. Tài sản bị niêm phong. Chủ tọa phiên đấu tố có 3 người là bần cố nông, người thì ít học, người thì mù chữ, và một cán bộ đội cải cách. Họ bắt bà đứng dưới sân. Những người đấu tố bà đứng trên thềm nhà thờ họ Nguyễn (Viết). Họ tha hồ xỉa xói bà, tố bà bóc lột nông dân. Hăng hái nhất đấu tố bà chính lại là con dâu của bà. Chị ấy dồn toàn bộ tức tối để diếc móc bà, xỉa xói tay vào mặt bà, làm trán bà thâm tím, rớm máu, xuýt bị ngã quỵ trên sân đấu tố. Mấy chục năm qua tôi không thể quên hình ảnh đáng trách chị con dâu của bà và đáng thương cho bà. Một khi mà đạo đức bị chà đạp không còn nề nếp gia phong của con người thì không còn gì để nói nữa!...Lúc đó đội là trời, chẳng ai giám ý kiến gì. Đội bảo sao nghe vậy nếu không sẽ liên lụy tới bản thân và gia đình mình.
   Cũng may sau đó chính phủ đã nhận thấy sai lầm do đội cải cách lộng quyền và dốt nát đã gây nên bao bất công sai trái nên chỉ thị khẩn phải sửa sai ngay. Bà và mấy người nữa trong thôn được trả lại thành phần cũ là trung nông, nhà cửa ruộng nương vẫn nguyên vẹn. nhưng lúc này bà cũng đã già yếu lắm rồi!...Mấy năm sau thì bà mất...
   Sau khi ly hôn vợ cũ, anh Phượng tìm hạnh phúc mới, có 2 con gái, 2 con trai. Cuộc vui chưa được chục năm anh lại tái ngũ ra chiến trận và anh đã không về.
   Quê hương lại có thêm một liệt sĩ hy sinh cho Tổ Quốc. Số liệt sĩ của riêng làng Hiệu Thượng đã lên đến 22 người. Rất ít người tìm thấy mộ. Phần lớn trong số đó ra đi chưa trở lại quê nhà!...
   Bà nguyễn thị Thoan mất đi người con duy nhất. Bà được nhà nước vinh danh Mẹ Việt Nam Anh Hùng nhưng bà mẹ ấy đã mất trước đó hàng chục năm có lẻ!...
   Thắp nén hương thơm kính dâng bà, bày tỏ lòng thành kính của chúng tôi đối với liệt sĩ Nguyễn Phượng và Mẹ VN Anh Hùng:  Bà Nguyễn Thị Thoan .
   Kính mong bà và các liệt sĩ an giấc ngàn thu nơi cõi phật, Phù hộ cho con cháu và bà con quê hương an lành trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới tại quê nhà ngày càng tươi đẹp…

   NQH

   Hà Nội ngày 20 tháng 7 năm 2017

Chuyện của cha tôi

Thưa bạn đọc.

Đáng ra bài này tôi đăng hôm 18 tháng 6, "Ngày của cha", nhưng hôm nay tôi mới đưa lên vì nghĩ rằng ngày ấy rất nhiều bạn viết về Phụ thân của mình. Hôm nay ít người có bài về đấng sinh thành là đúng rồi. Bao giờ cũng vậy, như người đi đường, chậm một chút nhất định vắng khách hơn, đường ít người đi lại tha hồ tung tẩy. Hôm nay tôi xin post  lên đây vài ba câu chuyện đời thường của cha tôi, mong được sự chia sẻ của các bạn.

Cụ Nguyễn Vấn (1900 - 1992 )

     Câu chuyện thứ nhất: Làm phúc

     Đang cuốc cỏ lúa ngoài vườn, có một người họ hàng xa mang đến một thẻ hương đen đã đốt sẵn đến nhà gọi cụ: Ông ơi, Cháu bị chó cắn, nhờ ông quản giúp cháu với. Thế là thầy tôi vác cuốc vào nhà, rửa tay chân sạch sẽ, và nói với họ, đưa vết cắn ông xem nào? Quan sát sơ bộ xong, cụ cầm thẻ hương vái mấy vái lên bàn thờ gia tiên và đọc lầm rầm điều gì đó mà tôi nghe không rõ. Tiếp đến cụ cầm thẻ hương quơ đi quơ lại như viết những chữ nho gì đó trước vết thương, đọc mấy câu thần chú xong cụ trả hương và dặn về nhà giữ gìn sạch sẽ, đừng để nước ao hồ sông ngòi dây vào thì 3 hôm sau sẽ lành.
    Chuyện ấy xẩy ra cứ dăm ba ngày lại có một người trong làng trong xã mang hương đến nhờ cụ giúp, không bao giờ lấy tiền hoặc mong trả ơn vì theo cụ đó là việc làm có đức, chẳng mất công mất cán gì cho nên cần giúp mọi người, âu cũng là làm phúc cho người ta vậy...
    Tôi là người chứng kiến nhiều lần như thế. Mùa hè cũng như mùa đông đều có khách, nhưng mùa hè thì nhiều hơn. Có một lần tôi hỏi cụ: Thầy có bí quyết gì không mà được mọi người tin tưởng như vậy? Cụ nói: Thầy làm theo Ông Nội các con thôi, bản thân thầy không biết có phép thuật hay thần bí gì cả.
    Tôi không tin những điều dị đoan như vậy nên khuyên cụ hạn chế việc này vì nhỡ chó dại cắn thì không thể cứu người ta được mà ngược lại làm họ chết oan một cách đau đớn.
   Cụ nói với tôi: Thầy biết. Trước khi giúp bao giờ thầy cũng xem xét vết thương xem có sâu không, chảy máu nhiều hay ít, nhiều răng hay ít răng? Hỏi qua con chó nhà ai? Tình trạng chó ốm hay khỏe? có bỏ ăn trước khi cắn hay không? Chó có hay trốn trong bóng tối không?... Nếu các yếu tố đó được loại trừ thì chắc chắn không phải chó dại. Tôi nghe vậy thấy yên tâm vì không phải cụ thực hiện một cách mù quáng mà căn cứ vào những hiện thực khoa học. Nếu thế, cụ thông minh thật. Mấy chục năm cứu người không xẩy ra điều gì, cụ thật đáng nể.
    Tôi nghĩ cụ không phải là thầy thuốc nhưng tấm lòng với mọi người xứng đáng như một lương y cao cả…
….
….

      Câu chuyện thứ 2: Đôi săng đan quai da đế krêp:

      Mùa hè năm 1952 anh Bình tôi xung phong nhập ngũ tân binh khóa 4. Cùng đợt ấy có 4 người trong làng là ông Nguyễn Do, ông Hoàng Đề, ông Trình Thu và ông Nguyễn Bình. Thanh niên 20 tuổi lên đường ra trận là điều vinh dự cho dân làng và gia đình. Năm đó tôi hơn 10 tuổi, anh em xa nhau biết bao bịn rịn vì chẳng có gì làm quà cho anh. Nhưng người buồn nhất, trăn trở nhất là thầy mẹ tôi.
    Anh tôi đi chỉ mang theo hai bộ quần áo thường ngày vẫn mặc, xếp gọn trong túi vải nhỏ cắp bên mình. Mũ nón không, đi chân đất, vội vàng tập trung ở đình Đào Viên lúc 4 giờ chiều, chưa kịp ăn một bữa cơm chia tay. Tám giờ tối hôm ấy tân binh hành quân qua làng Đông Phái, cách làng tôi một cánh ngô, một cánh lúa. Tiếng hò lơ ớ lơ hò lờ…vang vọng sang làng mình nghe rõ mồn một vì gió Đông Nam xuôi chiều. Đoàn quân vui vẻ lên đường. Mẹ tôi nước mắt ngắn dài vì thương con vất vả, hàng ngày vẫn đi lên phố huyện phía trên Cầu Bà, qua sông Yên Sở, gánh đỡ hàng cho mẹ . Bà buôn bán lặt vặt mỗi thứ một ít: vài chục củ gừng, mươi quả tai chua, chục quả dứa, một mớ nghệ, dăm chục quả muỗm và thanh trà. Mua từ chợ Dinh, Chợ Mõ đem về chợ Chùa bán lẻ. Vậy mà bây giờ con đi, ai là người sẽ giúp mẹ?!..
    Thầy tôi cứ yên lặng trầm tư. Anh Thái đã nhập ngũ cách đó 4 năm gửi thư về đang đóng quân ở Thanh Hóa rồi ra Ninh Bình. Tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh…
Sáng hôm sau thầy tôi mang ra chợ Chùa 1,5 kg bông xơ để bán, lấy tiền mua một đôi săng đan quai da, đế krep và nhờ chị dâu ( Chị Ngô thị Nhâm vợ anh Thái ) mang đi tìm chỗ đóng quân gửi cho em. Cụ chỉ nói hình như họ đóng quân ở vùng chợ Rộc huyện Yên Thành, cách nhà quãng 15 cây số gì đó. Hôm sau chị tôi khăn gói đi bộ lên đường sớm vì trời mùa hè nóng bức, cơm đùm cơm nắm, mang theo đôi dép quý. Chiều tối muộn chị tôi về, mang về bao thất vọng và mệt mỏi, mặt đỏ phừng phừng, lấm láp mồ hôi, ngồi phịch xuống thềm nhà, không quên đưa lại đôi dép mà thầy tôi hy vọng anh Bình sẽ nhận được. Thầy mẹ tôi thương con trai bao nhiêu giờ lại thương con dâu bấy nhiêu và nói với chị: Thôi được rồi, vào nhà nghỉ ngơi, tắm giặt xong ăn cơm với thầy mẹ và các em. Chị đã vất vả vì em mà không trọn.
    Cụ để đôi dép đó mấy tháng chờ anh tôi về mang đi nhưng càng chờ càng vắng. Về sau bán lại cho một người trong làng vì đó là tài sản lớn của thầy mẹ tôi lúc bấy giờ…
    Cảnh chia tay người con đi chiến đấu biết bao điều xấu tốt đang chực chờ, đơn giản như vậy. Thầy mẹ tôi chưa kịp dặn giò điều gì mà anh cứ vội vã như người đi làm đồng. Cảnh ấy diễn ra ở hầu hết các gia đình đều thế. Sau này thực hiện nghĩa vụ quân sự thì được chuẩn bị đàng hoàng hơn, ấm áp, tình cảm hơn…
    Kết thúc chiến tranh chống Pháp anh Thái tôi là Đại úy được ra quân năm 1956. Chuyển ngành về làm cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống công ty thực phẩm Nghệ An ở thành phố Vinh.
    Anh Bình được cử đi học tại Học viện Hậu cần Quân đội. Kết thúc khóa học được phong thượng úy, chủ nhiệm hậu cần, Phó Giám đốc Quân y viện 6, Quân Khu II ở Sơn La. Mấy năm sau làm cố vấn quân sự cho quân đội Lào ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Nậm Bạc. Lúc nghỉ hưu là Thiếu tá quân đội. Anh quyết định đưa cả gia đình về quê, xây dựng cuộc sống mới.
    Em Nguyễn Minh Châu nhập ngũ năm 1961 là sĩ quan thông tin quân khu 4. Địa bàn hoạt động nơi túi bom của giặc Mỹ. Đó là chiến trường Bình Trị Thiên. Sau giải phóng miền Nam đến năm 1977 được ra quân chuyển về Công ty Bưu điện Hà Nội.
    Điều đặc biệt ba anh em của tôi vào lính, xông pha trận mạc ác liệt nơi mưa bom bão đạn nhưng khi kết thúc chiến tranh không ai thương tổn gì, gia đình tôi lại sum họp trong niềm vui hạnh phúc và vô cùng may mắm…

Câu chuyện thứ 3:  Nhà tôi có đạn trong nhà

     Mùa thu năm 1952 một đơn vị quân đội đóng quân ở làng tôi, hình như chuẩn bị cho một chiến dịch mới.
    Ba tuần ở lại với dân được dân làng che chở đùm bọc. Các anh học tập chính trị, luyện tập các thao tác quân sự, lăn lê bò toài, xung phong, ngắm bắn mục tiêu cố định, di động. Phá hàng rào thép gai, mở khẩu cho bộ đội tiến công. Các động tác thuần thục như biểu diễn võ thuật.
    Đến kỳ chuyển quân đi nơi khác, đơn vị đã bí mật hành quân vào ban đêm ít người biết. Xóm làng bàng hoàng vì sự trống vắng đột ngột của các anh. Dân quê tôi có truyền thống yêu mến bộ đội Cụ Hồ. Đúng là quân với dân như cá với nước. Tình cảm quân dân mỗi ngày một sâu đậm theo thời gian…
    Trước lúc ra đi, ban chỉ huy chỉ trao đổi với thầy tôi ý định gửi lại khoảng 100 kg đạn súng trường, hẹn lâu nhất là 1 tháng, đơn vị sẽ cử người về nhận lại. Thầy tôi nhận lời. Mấy chiến sĩ khênh đến nhà lúc nhá nhem tối và đưa ngay vào buồng, xếp gọn vào đáy tủ gỗ. Xong xuôi cụ khóa lại và giữ luôn chìa khóa, dặn chúng tôi không được lộ bí mật là trong nhà mình có đạn. Điều lo lắng nhất của cụ vì nhà lợp mái bằng tranh rạ, sợ mẹ tôi đun nấu không cẩn thận nên ông thường xuyên nhắc bà nấu xong tắt lửa, đem hết rơm rạ còn lại ra ngoài. Cụ còn tự tay dập bếp bằng nước đến khi tro than tắt hẳn mới yên tâm đi làm việc khác.
    Có lúc cụ mở tủ ra kiểm tra, tôi tò mò xem. Những băng đạn màu đồng thau, đầu đạn màu đồng đỏ sáng loáng dài khoảng 1 mét, cuộn xếp ngay ngắn như những vị thần linh ở trọ trong nhà mình, bảo vệ che chở cho nhà mình, không sợ ma tà trộm cắp quấy nhiễu. Tôi hơn 10 tuổi đã tưởng tượng ra những điều viển vông, trẻ con như vậy, sau ngày lớn lên nghĩ lại, thấy thật buồn cười…
    Hơn một tháng sau, đơn vị cử 4 người về lấy. Các anh ấy chỉ lấy đi những băng nguyên vẹn, còn 3 viên lẻ, một anh lính trẻ dúi vào túi cho tôi. Tôi mừng nhưng không biết để làm gì nhưng vẫn nhận. Tôi coi như của riêng nên cất giữ cẩn thận lắm…
    Đến dịp giáp tết, nghe tiếng pháo nổ đì đùng của bạn bè, tôi mang ra từng viên một tìm cách rút đầu đạn ra để lấy thuốc bên trong các tút. Tôi biết bên trong có thuốc đạn và có thể chia từng ít một thay cho thuốc pháo. Thuốc đạn màu đen, có tinh thể như mì chính cánh, óng ánh dưới ánh sáng mặt trời. Nếu dí que diêm, thuốc sẽ bắt cháy kèm theo tiềng xì và tia lửa xanh lè  rất đẹp. Mùi thuốc cháy vừa khét vừa thơm hấp dẫn khó quên….
    Mấy năm sau gia đình ông Hà (hàng xóm) làm nhà, thuê bác thợ mộc trong thôn gia công kèo, cột, xà, dầm. Tóm lại là khoán phần lắp dựng khung gỗ. Đang làm dở chừng, không biết bác ấy nhặt đâu được viên đạn súng trường trông hơi cũ, vì chung quanh đã chuyển màu xanh của rỉ đồng, lấm láp bùn đất. Tiện tay bác ấy cầm viên đạn hướng đầu đạn lên trời, thắp que hương đang có lửa than màu đỏ dí vào đáy viên đạn. Đạn nổ, người ngã , máu đầm đìa chảy xuống sân. Bàn tay cầm đạn cụt mất 3 ngón. Tay loang lổ vết thương, may quá không ai làm sao. Thế là việc làm nhà của chủ đành bỏ dở. Sau 2 tháng điều trị, băng bó, công việc mới tiếp tục trở lại. Chủ nhà thuê thêm người phụ với bác nên mấy tháng sau mới hoàn thành công trình…
   Nghĩ lại mấy năm trước, lúc lấy thuốc đạn ra khỏi các tút, tôi thấy sợ, vì không hề biết đáy viên đạn có một hạt nổ, nếu chạm mạnh hoặc tiếp xúc với nguồn nhiệt, kíp sẽ nổ, làm cháy thuốc bên trong và gây tai nạn không lường trước được hậu quả. Tôi chỉ biết lấy một quai dép cao su quấn đầu đạn xoay đi xoay lại, lấy con dao nhỏ vuốt sống dao xuống đuôi viên đạn một cách nhẹ nhàng, đầu đạn sẽ lỏng ra. Tôi chỉ xoay vài vòng nữa là lấy được thuốc. Công việc thành công cho cả 3 viên diễn ra bình thường. Tôi gói từng ít nột như hạt ngô với giấy Pơ luya mỏng và đợi đêm tối trời mới đem ra châm lửa.
   Đem câu chuyện nghịch ngợm ở lứa tuổi trẻ con kể lại, tôi mong một điều: lứa tuổi thiếu nhi tránh xa khi tiếp xúc với đạn bom.
   Tôi rất buồn khi nghe tin nơi này nơi khác vẫn có người cưa bom, cưa đạn để lấy thuốc và đã hứng chịu tai nạn thương tâm, có vụ chết hai ba người một lúc, tan xương nát thịt một cách thê thảm như vụ cưa bom ở khu đô thị Văn Quán quận Hà Đông. Có người què cụt, hỏng mắt và chịu cảnh thiệt mạng hoặc tàn tật suốt đời.

   Tất cả họ đều ít hiểu biết về bom đạn, làm những điều ngờ nghệch nên phải gánh chịu hậu quả đau đớn mà thôi…

    Câu chuyện thứ 4: Đi xem xiếc

   Sau khi ký hiệp định đình chiến giữa VN và Pháp tháng 7 – 1954, hơn một năm sau Trung Quốc cử đoàn xiếc sang VN biểu diễn. Qua các đêm diễn ở Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, đoàn vào Vinh phục vụ nhân dân Nghệ An. Theo chủ trương của tỉnh, các buổi diễn sẽ dành một số vé mời phân phối cho các huyện, ưu tiên các gia đình có nhiều đóng góp cho kháng chiến. Đây là đoàn nghệ thuật nước ngoài đầu tiên biểu diễn ở tỉnh ta nên ai cũng muốn có một tấm vé để thưởng thức nghệ thuật. Xã Quảng Châu cũng được huyện phân cho 2 vé. Bình đi xét lại ai cũng muốn đi, thầy tôi vào diện ấy nhưng cụ bảo xin nhường lại cho người khác. Tuy vậy ông Trần Hạnh phó Chủ Tịch xã lúc ấy nói: ông cố gắng đi vì so tiêu chuẩn tỉnh hướng dẫn thì không ai bằng ông. Bản thân ông là Chủ Tịch UBKCHC xã từ đầu c/mạng tháng 8 năm 1945, lại có 2 con tòng quân vào bộ đội, gia đình tốt. Đây cũng là dịp may hiếm có, không nên từ chối. Nghe ông Hạnh phân tích, vận động, thầy tôi vui vẻ nhận lời. Không ai suy bì hơn thiệt…
   Cầm tấm vé về nhà khoe các con, cụ mừng ra mặt và tự hào lắm. Đây là vé tỉnh mời, không phải ai muốn có cũng được.
   Nghĩ đi nghĩ lại, chuyến này vừa đi xem, vừa vào chỗ anh Thái thăm anh ấy ra quân chuyển về đơn vị quốc doanh làm ăn ra sao?
   Sáng hôm sau thầy tôi lên đường…
   Năm ấy đường đi lại khó khăn vì chủ trương tiêu thổ kháng chiến của những năm trước đó. Đường bộ mới san lấp, đường tàu hỏa chưa khôi phục vì ray thép, tà vẹt đã phá dỡ, còn ô tô mỗi ngày có vài chuyến xe cỡ nhỏ cũ kỹ chở khoảng 30 khách chạy bằng hơi nước, đốt lò bằng than. Những người buôn bán bám trụ, người thường không thể tranh chỗ họ được. Cụ cũng nghĩ ngày trước đi chợ Giát buôn hành, cả đi cả về cũng mất cả ngày là thường nên quyết tâm đi. Nói đến xe đạp thì cả làng chẳng ai có, mà nếu có cũng chẳng biết đi nên thầy tôi quyết định đi bộ…
   Diễn biến chuyến đi ra sao mời các bạn xem bài thơ tôi viết, cách đây đã mấy chục năm, các bạn vui lòng xem lại nhé:

   ĐI XEM XIẾC

Mùa xuân năm sáu xiếc sang ta ( 1956 )
Tề Tề Cáp Nhĩ đúng tên Hoa
Trung Quốc – quê hương đoàn xiếc ấy
Vé tỉnh mời đưa đến tận nhà.

Gia đình kháng chiến được ưu tiên
Một vé rõ ràng ghi đúng tên
Ngày giờ biểu diễn xem đã rõ
Giấy mời đưa trước ba ngày liền.

Đến hẹn hôm sau ông cụ tôi
Đi từ sáng sớm cho mát trời
Bỏ túi đàng hoàng mười đồng chẵn (1)
Cho chắc – đi đường khỏi lụy ai.

Ô tô không có, xe đạp không!
Cụ tôi cuốc bộ một ngày ròng
Diễn Châu – Vinh bốn mươi cây số
Mệt đâu nghỉ đấy nhẹ như không.

Đến nơi xem xiếc thật là sang
Đèn điện sáng trưng rất rõ ràng
Ghế đệm lò xo ngồi nhún nhẩy
Dãy vé ưu tiên thật đàng hoàng…

Sáng hôm sau ông cụ ra về
Lại một ngày đường như lúc đi
Rã rời tay chân, thân bải hoải
Hỏi thế nào? Cụ chẳng nói gì!...

Hôm sau nữa như đã hoàn hồn
Cụ tả hai thằng vật nhau luôn
Vật xong đứng dậy chỉ còn một
Một thằng biến mất thật là khôn…

Nghĩ mà thương cụ đúng nông dân
Đi bộ cả ngày vì chiếc vé ưu tiên
Từ nay nếu được mời xem xiếc
Sẽ lắc đầu hàng chục cái liền…

                              NQH

(1) Mười đồng ngày ấy bằng bán 1/4 con bò các bạn ạ.

Thơ Đỗ Anh Thư

LẠC MẤT MÙA XUÂN.
Lần đầu em gặp chàng
Trên dốc mù sương bay
Lần đầu Anh ngỡ ngàng
Trông má nàng hay hay
Chiều Xuân trên phố núi
Ngọt ngào hồng môi ai
Lòng Anh nghe tiếc nuối
Và yêu thương dâng đầy
Rồi ngày em gặp chàng
Trong tiếng đàn mê say
Và hồn em mơ màng
Đắm đuối chìm Thiên thai
Chàng về gieo luyến nhớ
Muộn phiền trong mắt ai
Nhìn bông Hoa Quỳnh nở
Thương từng đêm trôi dài
Bềnh bồng trong ký ức
Ngày nào vai sánh vai
Ngày niềm vui háo hức
Trên đầu hoa em cài
Mà giờ sao héo hắt
Vườn tình gió lắt lay
Mùa Xuân vừa đi mất
Gót hài son lạc loài.
ATĐ.
Thích
Bình luận

lăng mộ đá toyota thanh hóa